Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Phong thủy: huyền bí? ghê gớm? nhưng chính là khoa học

Trong cuộc sống đôi khi ta nghe người khác nói về phong thủy theo nhiều cách: thận trọng, sùng bái, mê muội, hay dửng dưng, đả phá, thậm chí phẩy tay. Phong thủy khó hiểu nhỉ. 
Trong phạm vi bài viết mang tính giải trí là chính, tầm hiểu biết của tôi còn nhiều hạn hẹp, cũng như thời gian dành cho viết lách và khả năng diễn giải cũng có giới hạn, tôi xin trình bày chút chút để nếu có thể, chúng ta cùng hình dung Phong thủy trong kiến trúc hình thù gì, chỉ vậy thôi. Nhớ nhé, vui là chính.  

Khung cảnh nào giúp bạn thành công trong công việc? 
1. Xưa nay có câu bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra, nhưng thực ra bệnh vào người có từ nhiều nguồn khác nhau, không đơn thuần đến từ thực phẩm; Này nhé, có vài nhóm như sau: 
– Bệnh đến từ di truyền
– Bệnh đến từ không khí, đến từ ngoại lực tác động, …
– Bệnh từ thói quen sinh hoạt, làm việc quá sức, lười vận động, ăn chơi sa đọa, …
– Bệnh đến từ tâm lý, tâm tính, ký ức…
– Bệnh đến từ sùng bái, tín ngưỡng mù quáng,…
– Bệnh đến từ cách tổ chức chỗ ăn ở sinh hoạt và làm việc thiếu khoa học… 
Vậy có bệnh thì phải vái tứ phương, nhưng tìm ra căn nguyên của bệnh là một việc không hề dễ dàng. Đôi khi không thể bằng y thuật mà phải bằng chính sự hiểu, ngộ và thông của người “bệnh”. 
2. “Phong thủy” không phải không có những người tán phét để trục lợi, dọa dẫm hòng lấy tạo uy tín xã hội. Cá nhân tôi thực tình không thích dùng gán ghép câu chuyện “phong thủy” khi nói đến các nguyên nhân và hệ quả trong cuộc sống nói chung và câu chuyện xây cất nhà cửa nói riêng. Nếu gọi A là “nguyên nhân”, C là “hệ quả”, có người gật đầu công nhận ngay, có người bắt buộc phải thấy hay trải nghiệm qua B là “quá trình” thì mới công nhận và có người chẳng A, B hay C nào tồn tại. Nhưng hiềm nỗi B không phải lúc nào cũng hiện ra trước mắt, không phải lúc nào cũng là con đường đi thẳng, mà còn vòng vo lắt léo phụ thuộc quá nhiều các ẩn số. Không thấy, không tin, phủ nhận là chuyện dễ dàng được chấp nhận nhất. 
Ví dụ:
Anh X mới được cấp văn phòng riêng, anh kiên quyết không ngồi chỗ của người cũ, anh thích bài trí sắp xếp theo cách của mình và không để ý đến những chi tiết khác. Một thời gian sau anh luôn cảm thấy bất an, công việc thì không trôi chảy, các quyết định của anh cũng không còn nhạy bén nữa. Hai mắt của anh luôn mệt mỏi, thần kinh căng thẳng, lưng và cổ thường xuyên đau nhức. Gần đây đi khám bác sỹ cho anh biết anh có nguy cơ máu trong mỡ và trong thận có sỏi. Công việc ở công sở bê trễ dẫn đến cáu kỉnh, anh cố dĩ hòa ở cơ quan nhưng về đến nhà quên chữ vi quý với gia đình. Những người thân quanh anh, bạn bè, khách hàng bắt đầu nhìn anh khác đi. Anh thấy con người mình vẫn như vậy và tự hỏi lý do vì sao?
Có người bảo cúng vái thổ công chưa? Có người mang la bàn và que đo đến kiểm tra địa từ trường, đo thước Lỗ Ban đến kiểm tra. Có người lật sách bấm tay bảo mệnh anh xung khắc. Có người bảo hay là sức khỏe xuống cấp cần tẩm bổ. Có người khuyên anh đặt cái này, treo cái kia để yểm để phù. Có người còn dẫn cả thầy bói đến dọn quẻ phán anh có tiểu nhân hãm hại. Có người lại nói đơn giản thôi, anh xem lại vị trí ngồi, kích thước, bàn ghế, nội thất phòng sắp xếp hợp lý chưa, ánh sáng, thông gió, nhiệt độ, độ ẩm, cách âm, màu sắc thế nào, tầm mắt ra sao?.v.v… 
Nhiều quá, loạn quá biết nghe ai, tất cả đều nhận rằng phương pháp của mình là phong thủy.

Những cầu thang mất cân bằng. 
3. Từ cổ xưa đến nay, xuất phát từ việc quan sát sự vận hành của sự vật hiện tượng, tìm ra quy luật tự nhiên của vũ trụ (thiên nhiên), quy luật xã hội, đến cấu trúc cơ thể con người, thói quen hành vi của con người … hòng đưa ra các giải pháp hóa giải, điều chỉnh sửa đổi phù hợp giúp cuộc sống tốt hơn, tránh các hệ lụy không tốt xảy ra trong tương lai. Đó là phong thủy. 
 Ảnh : Vượng khí liệu có tồn tại? 
Vài ví dụ đơn giản ta hay nghe hay gặp: Cửa nhà nhìn về phía Nam để tránh từ gió mùa Đông Bắc. Hướng nhà không quay về núi: tránh gió lạnh và bóng quá lớn từ quả núi đè át căn nhà. Trước cau sau chuối: đầu nhà cao ráo thoáng mát, sau nhà thành một bức tường thiên nhiên kín đáo tia nhìn. Có ba cửa, dưới chân có thanh gỗ chắn: để phân loại khách và hãm người xộc vào nhà. Bình phong trước sân: tránh tia nhìn trực tiếp vào nơi thờ cúng. Gò đồi tả hữu, phía trước có hào nước, lưng tựa núi: giảm tốc độ tấn công quân địch, giúp cho thế công thủ liên hoàn bảo vệ và đường thoát khi thất thủ. Đòn dong chĩa vào nhà: vật thể hình mũi tên ngày ngày như muốn đâm vào mắt bạn khó chịu vô cùng, tương tự như nhà ở ngã ba vậy. Nhà không xây bên bờ lõm của sông: vì từ khi hình thành suối, địa chất nơi đây đã yếu sẽ tiếp tục bị xói lở bởi dòng chảy. Nhà bên thuận an toàn hơn bên nghịch đường… 
Phức tạp hơn một chút: Hướng nhà, vị trí bếp ăn, cầu thang thuận hay nghịch, số bậc chẵn lẻ như thế nào, trổ cửa phòng và đầu giường ngủ đặt ở đâu.
 Phức tạp hơn: Kích thước cũng như khối tích của không gian, cân đối (đặc rỗng) trên cửa đi cửa sổ với tường xây, hài hòa âm dương trong các cặp vật liệu, duy trì sự quân bình giữa không gian tĩnh và động, hóa giải các bức xạ năng lượng xấu…
Phức tạp hơn nữa: Tuổi tác của bạn trong từng giai đoạn, sức khỏe của bạn trong một ngày, từng mùa trong năm, từng giai đoạn trong cuộc đời. Mệnh của bạn hợp xung về âm dương ngũ hành… 
  • Ảnh bên: Lối vào, đẹp đấy nhưng thiếu sinh khí 
4. Trở lại ví dụ trên, tôi tìm thấy cách lý giải về sự việc tưởng chừng như mê tín hay thần bí đôi khi rất đỗi bình thường. Này nhé: 
Anh ta xem lại phòng có bao nhiêu cửa cao rộng, vị trí hợp lý không? Có cản trở không? Bàn ghế xem có phù hợp với thể hình và sức khỏe không, vật liệu và cách sử dụng có bất tiện, có làm anh phân tâm không?. Phòng làm việc sắp xếp thế nào, gọn gàng chứ? Kế tiếp tầm quan sát của anh khi làm việc có giúp anh bao quát tất cả không? Anh có bị giật mình vì ai đó gõ cửa hay đột nhiên xộc vào phòng không? Lưng anh tựa vào gì có chắc chắn không? Máy điều hòa không khí đặt như thế nào, thổi vào đâu, có lạnh quá hay bẩn quá không? Phòng làm việc có giúp anh nhìn thấy những khung cảnh giàu sức sống cũng như che chắn các tia nhìn soi mói, thậm chí nghe lén chứ? Cây cối trang trí có héo úa không? Có đặt gương soi hay treo tranh ảnh gây nhức mắt hoặc gây buồn bực không?… Giải đáp được, tôi nghĩ về mặt chủ quan đã hóa giải gần hết các căn nguyên gây bệnh.
  • Ảnh bên: Lối vào hạnh phúc 
Bàn ghế sai kích thước cơ thể, dùng lâu sẽ ảnh hưởng đến gân và xương khớp cột sống. Bàn phím con chuột đặt quá cao hay quá thấp hay vướng víu sẽ bị đau cổ tay và làm lệch vai. Vị trí ngồi bị động và không thấy an tâm sẽ làm ảnh hướng đến thần kinh và thính giác sau một thời gian, chưa kể dẫn đến bệnh về huyết áp tăng giảm và đau dạ dày. Ánh sáng mạnh hay yếu quá ảnh hưởng đến thị giác là đương nhiên, vị trí đèn so với người thuận tay mặt hay tay trái cũng có ảnh hưởng lên thị giác. Cách sắp đặt đồ đạc và vật liệu bất hợp lý, khó sử dụng sẽ âm thầm tích lũy tác động lên thần kinh của bạn. Gió, không khí và nhiệt độ nếu không chế ngự sẽ tác động đến bộ máy hô hấp, từ đó dẫn đến một vài bệnh khác. Vị trí nguồn ngước và khu vệ sinh cũng có tác động đến thói quen bổ sung và tiêu thoát đối với những người bận rộn và ngán ngại, lâu dần có bệnh về thận và trĩ… 
5. Tóm lại thế này: Phong thủy là phương pháp giúp chúng ta hiểu rõ mình và sống tốt hơn, nếu ai đó bảo với bạn rằng phong thủy là phải thế này thế kia, nhưng cơ thể bạn mách bảo nó không phù hợp thì đó có thể chưa phải là phong thủy tốt cho bạn. Hoặc bạn có một căn nhà nhưng bạn không cảm thấy thoải mái với nó và tìm cách cải tạo nó theo đúng nhu cầu thì bạn đang làm công việc của chuyên gia phong thủy. Trong căn nhà của bạn, bạn và gia đình sống tốt, sống thoải mái, sống bền vững, và yêu quý từng góc nhà, từng mảng tường, chậu cây, cửa sổ, bầu trời … tôi xin gửi đến bạn lời chúc mừng rằng bạn đang sống trong một thế giới quan rất đúng phong thủy.  
Rất chuẩn, các bạn biết ở đâu rồi... BuildBN đấy! :)

 

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

MẬT TÔNG LÀ GÌ?


Hỏi: Mật Tông là gì? Đáp: Mật Tông là một tông phái của Đạo Phật dùng các “MẬT NGỮ” của chư Phật làm phương tiện tu hành.

Hỏi: MẬT NGỮ là gì? 
Đáp: Mật ngữ có nghĩa là “lời nói kín”. Mật ngữ còn gọi là “Chân ngôn” (lời nói chân thật). Mật ngữ còn gọi là “Chú”, đây là tiếng thông thường người đời hay dùng nhất. Chú cũng có nghĩa là lời nói bí mật. 

Hỏi:Tại sao nói là bí mật?
Đáp: - Bí mật vì nó không được giải nghĩa. 
- Bí mật vì chỉ có chư Phật mới hiểu trọn vẹn. 
- Bí mật vì tùy trình độ, căn cơ và sự ứng dụng mà mỗi người một khác, đạt một kết quả khác. 
- Bí mật vì nó chỉ được thông đạt qua Tâm truyền Tâm, giữa thầy trò, giữa chư Phật (hoặc người nói ra chân ngôn) với hành giả. Điều này chỉ người nào tu Mật rồi mới chứng nghiệm được). 
- Bí mật vì kết quả đạt được tùy Tâm hành giả. 

Hỏi: Tại sao lại dùng “Chú” làm phương tiện tu hành? 
Đáp: Tu theo đạo Phật có rất nhiều cách để đi tới “cứu cánh giải thoát”, có người niệm Phật, có người tụng kinh, có người ngồi Thiền, vậy thì dùng “Chú” cũng chỉ là mượn xe đi đến đích mà thôi. 

Hỏi: Tại sao lại chọn “Chú” mà không dùng các cách niệm Phật, tụng kinh?
Đáp: Trong một cuộc hành trình muốn đi tới một điểm nào đó, người ta thường thích chọn xe nào đi cho nhanh và thỏa mái. Vậy thì việc chọn “Chú” mà không dùng các phương tiện khác là như thế. 

Hỏi: Tại sao lại nói dùng “Chú” là phương tiện đi nhanh? Đáp: Vì dùng “Chú” thì ngoài “tự lực” của mình còn nhờ “tha lực”, giống như đi thuyền biết trương buồm nên nhờ được gió đẩy mà đi nhanh hơn. 

Hỏi: Thế nào là “tự lực” và “tha lực”? 
Đáp: “Tự lực” là dựa vào sức của chính mình mà thành việc. “Tha lực” là nhờ vào sức khác ở ngoài mình trợ giúp. Người tu Mật Tông nói đến tha lực là nói đến sức hỗ trợ vô hình từ các cõi xuất thế gian đưa đến. 

Hỏi: Tại sao lại phải nhờ vào tha lực? 
Đáp: Bởi vì sức người có hạn mà sức ngoài thì vô hạn, nếu ta biết nương vào sức đó thì sẽ giúp ta sớm đạt kết quả. 

Hỏi: Nhờ đâu ta có tha lực hỗ trợ? 
Đáp: Nhờ ở chân ngôn tức “Chú”. 

Hỏi: Căn cứ vào đâu mà nói “Chú” có tha lực giúp ta mau thành tựu? 
Đáp: Điều này thuộc về bí mật, mà chỉ có thể chứng minh được bằng: - Đức tin của mình, 
- Sự chứng nghiệm, và 
- Cảm nhận. Kết quả chỉ được chứng minh khi đã hành trì. 

Hỏi: “Chú” do đâu mà có?
Đáp: “Chú” do TÂM Phật mà có. “Chú” do lòng thương xót chúng sinh mà có. Chư Phật, chư Bồ tát hoặc các vị khác khởi từ tâm chân thật, từ lòng thương xót chúng sinh mà nói ra “Chú” để cứu độ. Vì “Chú” phát xuất từ TÂM CHÂN THẬT nên mới gọi là “Chân ngôn”. 

Hỏi: Đọc “Chú” có lợi ích gì?
Đáp: Vì “Chú” xuất phát từ chỗ vô hạn là Tâm Phật nên lợi ích của nó cũng vô cùng, không thể kể hết. Tuy nhiên, đối với người tu thì lợi ích đứng đắn và thiết thực nhất là: “Chú” giúp ta được tìm cầu giải thoát mau chóng và giúp người khác cùng tiến với ta. Còn các lợi ích khác như có thần thông, trừ tà ma, chữa bệnh chỉ là phụ, không nên nhìn “Chú” bằng con mắt hạn hẹp đó. 

Hỏi: Những ai đọc “Chú” được? 
Đáp: “Chú” là phương tiện của Phật cho mượn nên ai mà chẳng có quyền đọc. Tuy nhiên khi ta mượn một cái xe thì điều cần thiết là ta có biết sử dụng nó hay không. Nếu không thì xe sẽ trở thành một trở ngại, một khó khăn cho ta, làm cho ta dừng lại với xe mà không tiến được trên đường Đạo. Bởi vậy, những người biết lái xe, hiểu bệnh của xe, phải là những người được huấn luyện chuyên môn. Do đó đọc “Chú” thì ai cũng có thể đọc được, nhưng có kết quả hay không, nhiều hay ít, đó mới là vấn đề, ấy là chưa nói đến cái hại có thể đến nữa. Nói thế không hẳn là chỉ những người tu chân ngôn mới được đọc “Chú” mà bất cứ ai nếu với tâm thành thật, hướng đến sự tốt lành cho mình, cho người, vẫn có thể dùng “Chú” mà vẫn thấy linh nghiệm. 

Hỏi: Đọc “Chú” đòi hỏi những điều kiện gì? 
Đáp: Đương nhiên là cần một số điều kiện. Thông thường ta phải có: - Sự tin tưởng vững chắc vào “Chú”, 
- Lòng thành khẩn khi đọc, 
- Hướng về làm lợi ích cho tha nhân hay các chúng sanh. Đối với người tu Mật Tông thì còn cần nhiều điều khác nữa như: - Phải xả thế nào. 
- Phải dụng tâm ra sao 
- Phải dụng ý thế nào 
- Phải dụng lực làm sao 
- Phải trì tụng thế nào trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi. 
- Phải làm thế nào Tam mật tương ứng 
- Phải làm lợi ích cho chúng sanh thế nào, và 
- Phải hồi hướng công đức ra sao. Tất cả những điều đó, nói riêng cho người tu Mật, sẽ được giải đáp trong phần II, nói về người tu Mật Tông phải làm gì? 

Hỏi: Khi nào nên đọc “Chú”, khi nào không nên đọc? 
Đáp: Nên đọc những lúc tâm thanh tịnh, hướng về làm lợi lạc cho người khác, cho chúng sanh. Tuy nhiên lúc Tâm rối loạn thì “Chú” cũng giúp cho tâm được an ổn. Không nên đọc “Chú” khi tâm ác, có ý hại người. Đối với những người tu Mật Tông thì không lúc nào là không nên đọc “Chú”, vấn đề là nên đọc “Chú” nào và vào trường hợp nào để làm lợi lạc chúng sanh. 

Hỏi: Đối với người tu Mật Tông thì việc trì “Chú” là gì? Đáp: Mục đích tối hậu là giải thoát cho mình và để cứu độ người khác. Mục đích là phải tu thành Phật bằng phương tiện trì “Chú” ngay trong hiện kiếp này. 

Hỏi: Muốn tu thành Phật bằng phương tiện trì “Chú” thì phải làm sao? 
Đáp: Thì người hành giả tu Mật Tông phải thực hiện được “Tam Mật tương ưng”, nghĩa là làm sao cho “Thân, Khẩu, Ý giống như Phật”. 

Hỏi: Làm thế nào để được “Tam Mật tương ưng”?
Đáp: Muốn được “Tam Mật tương ưng” thì phải qua một quá trình tu tập hành trì. Đi nhanh hay chậm là do sự tự ngộ và mở Tâm của mình. 

Hỏi: Người tu Mật Tông đối với GIỚI, ĐỊNH, HUỆ như thế nào? 
Đáp: Tu theo Phật đạo mà muốn thành tựu thì chẳng Tông Phái nào mà không có GIỚI – ĐINH - HUỆ cả. Đối với Mật Tông, GIỚI là Tâm giới, tịnh giới. Như vậy có nghĩa là tự lòng mình thấy cần giữ giới, tự mình trở về với cái tịnh, cái sạch, đó là “thân tương ưng”, nếu không giới tịnh thì việc tu không kết quả. Khi đã giới rồi thì vào ĐỊNH chẳng khó, vì tự giữ giới đã sinh Định, rồi lại còn nương vào oai lực của chơn ngôn nữa thì kết quả phải đạt. Do Định đó mà Huệ phát là chuyện tất nhiên vậy. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn thì ĐỊNH HUỆ là một, không có rời nhau. Do đó, nếu giữ giới rồi sau đó nương vào chân ngôn mà hành trì thì tự nhiên đủ cả Định, Huệ. 

Hỏi: Mật Tông thuộc Tiểu thừa hay Đại thừa? 
Đáp: Phân chia Tiểu thừa, Đại thừa chỉ là tạm tách ra cho dễ hiểu về đường hướng tu tập và qua niệm hành trì mà thôi. Mật Tông không nằm trong thừa nào kể trên cả, mà đường đi của Mật Tông là con đường ngắn nhất, nhanh nhất, một bước đến giải thoát mà người ta gọi đó là “TỐI THƯỢNG THỪA”. 

Hỏi: Thế nào là “Tối thượng thừa”? 
Đáp: Tối thượng thừa là một bước đi lên “thành Phật”. Tối thượng thừa là: vạn pháp thông đạt, vạn pháp đầy đủ, tâm vô cấu nhiễm, lìa các pháp tướng đi thẳng vào TÂM Phật. 

Hỏi: Đường lối của Mật Tông ra sao? 
Đáp: Đối với Mật Tông tu là để “cứu độ” chúng sinh chứ không phải là để “giải thoát” cho riêng mình. Do đó, đường lối của Mật tông là: ở mọi nơi, trong mọi lúc đều nhằm làm lợi lạc cho chúng sinh. 

Hỏi: Mật Tông khác với các tông phái khác như thế nào? Đáp: Về mục đích sau cùng của các tông phái đều đạt đến Giác ngộ giải thoát. Vậy thì Mật Tông cũng không đi ra ngoài mục đích đó, nếu có khác chăng chỉ khác trên phương diện hành trì đối với các Tông phái khác mà thôi, hay nói khác đi là chỉ khác nhau về cách dùng phương tiện để đạt đến mục đích “cứu cánh”. (Vấn đề này sẽ được bàn rộng hơn ở phần III nói về “Quan niệm của người tu Mật”). Còn về sự khác nhau trên phương diện độ sanh thì tôi không nói đến, vì tất cả đều “tùy duyên” mà đáp ứng. 

Hỏi: Tu Mật Tông có khó không? 
Đáp: Khó hay dễ là do mình. Các cụ thường nói “Vạn sự khởi đầu nan”, nghĩa là mọi việc khi bắt đầu đều khó, nhưng lúc quen rồi thì thấy dễ thôi. 

Hỏi: Người nữ có tu được Mật Tông không? 
Đáp: Đạo không phân chia nam, nữ. Phật không chọn nam, nữ để độ riêng. Vậy tại sao ta lại phân biệt? Đã là đi tìm giác ngộ thì già, trẻ, lớn, bé, trai gái gì mà không được! 

Hỏi: Người ta thường nói “Tự Tu Tự Độ” vậy Mật Tông có như vậy không? 
Đáp: Nên hiểu nghĩa “Tự Tu Tự Độ” là mình phải tự tu cho mình, không ai tu giùm hoặc tu mướn cho mình được, đừng hiểu là “tu không cần Thầy”. Các cụ đã dạy “Không thầy đố mày làm nên”. Vì vậy, dù là thế gian hay xuất thế gian, làm việc gì muốn đạt đến mục đích mau chóng và toàn mỹ thì đều phải có học và có Thầy cả. Mật Tông cũng như vậy thôi. 

Hỏi: Người ta thường thấy đọc chú, bắt ấn cho là mê tín và hành tà giống như mấy ông thầy pháp. Vậy Mật Tông thì sao? 
Đáp: Khi nào tin một cách mù quáng thì là mê tín thật, còn người tu Mật Tông thì biết rõ việc mình làm, thẩy rõ mục đích mình đi tới, vậy sao gọi là mê tín được. Còn việc tà chánh thì phải hiểu là Đạo không có phân chia Tà, Chánh. Mà Tà hay Chánh là do TÂM ý người hành Đạo. Nếu ta tu theo Chánh đạo, nhưng ta dùng phương tiện đi làm việc xấu, cướp đoạt tiền bạc, vợ con của người, lòng đầy tham, sân, si, thì đó là ta hành tà. Còn nếu như thầy Pháp mà người ta làm việc cứu người không nghĩ đến lợi ích cá nhân, không hại người lành, ngăn chặn kẻ ác thì đó là chánh chớ đâu phải tà. Về người tu Mật tông thì là “Tu để thành Phật” vậy tà làm sao được? Phật và Ma chỉ khác nhau ở lòng “Từ Bi Cứu Độ” mà “Từ Bi Cứu Độ” là tôn chỉ của Mật Tông đấy. 

Hỏi: Tu Mật Tông có cần ăn chay giữ giới không? 
Đáp: Nếu ăn chay được thì tốt, vừa ít bệnh tật lại mau tiến tu hơn, vì thân thể thanh tịnh. Còn như không ăn chay được thì cũng vẫn tu được, chỉ có điều là ta đã không thể hiện lòng từ bi của Phật, vì ta đã dùng thân mạng của một chúng sanh khác nuôi sống thân mạng của ta. Về giữ giới thì người Phật tử nào đã quy y rồi thì đều phải giữ năm giới: - Không sát sanh 
- Không trộm cướp 
- Không tà dâm 
- Không nói sai, nói dối, nói đôi chiều, nói đâm thọc 
- Không uống rượu. Người tu Mật Tông cũng vậy thôi, và vấn đề này sẽ được bàn đến trong phần sau, khi nào người tu Mật Tông đã hành trì tự nhiên không nói đến giữ giới mà lại tự giữ giới hơn ai hết. 

Hỏi: Biệt làm sao để chọn “Chú” nào mạnh, “Chú” nào yếu, “Chú” nào linh, “Chú” nào không? 
Đáp: Mạnh hay yếu khi nào học và hành trì thì sẽ rõ, còn linh hay không là ở mình. Các cụ thường nói: “Linh tại ngã bất linh tại ngã” ta không nên quên điều đó. 

Hỏi: Người Phật tử khi đọc kinh sách gặp một câu “Chú” thấy ghi những kết quả lớn nên đem trì tụng, như vậy có ích lợi gì không? 
Đáp: Có lợi nhưng rất nhỏ nhoi, không đáng kể so với lợi ích đã ghi chép trong kinh sách. 

Hỏi: Vì sao lợi ích lại nhỏ? 
Đáp: - Vì lòng còn tham, muốn cầu lợi ích riêng mình, 
- Vì tâm còn nhỏ hẹp nên sự linh ứng không lớn 
- Vì không biết dùng “Chú” nên sự đáp ứng chẳng được như ý, 
- Vì thiếu ấn pháp nên chưa trọn vẹn, 
- Vì công đức chưa đủ mà lại muốn được thành tựu lớn. 

Hỏi: Vì sao đọc “Chú” lại cần bắt ấn? 
Đáp: Ấn là bí pháp thuộc về “thân mật”, khi nào tu lâu sẽ hiểu. Đại để có thể tạm giải thích: khi ta bắt ấn thì làm phát huy cái lực của “Chú”, cũng ví như mở đài, tivi mà có thêm cây ăngten vậy. Đối với người tu Mật thì việc bắt ấn còn là một sự “thể nhập” vào pháp thân Phật nữa. 

Hỏi: Tại sao người tu Mật Tông lại gọi là “Trì Chú”? 
Đáp: Trì có nghĩa là nắm giữ lấy. Nếu ta chỉ đọc không thôi thì nó sẽ theo gió mà bay đi. Còn khi nói “Trì” thì phải nghe rõ “Chú” , phải theo âm thanh của “Chú” mãi mãi không rời. Đó là sự khác biệt giữa “ĐỌC” và “TRÌ”. 

Hỏi: Trì chú, bắt ấn bao lâu thì có kết quả? 
Đáp: Người tu Mật Tông nói đến “thành tựu” để cứu độ chúng sanh chớ không mong cầu kết quả cho mình. Còn thành tựu lâu hay mau, lớn hay nhỏ đều do ở mình, chỉ có hai điều chắc chắn cò thể nói được: Một là tu Mật Tông thì tiến từng giờ, từng ngày. Hai là đã tu thì sẽ có thành tựu, chỉ khác nhau ở chỗ lớn hay nhỏ mà thôi. 

Hỏi: Thế nào là tiến từng ngày, từng giờ? 
Đáp: Điều này thuộc về chứng nghiệm, chỉ khi nào tu mới thấy rõ được. Tuy nhiên có thể nói rằng nương vào chân ngôn, hành giả tiến được rất nhanh. Giờ sau khác giờ trước, ngày sau khác ngày trước. 

Hỏi:Tại sao thành tựu lại khác nhau lớn hay nhỏ?
Đáp: Đối với một hành giả, thì sự thành tựu lớn hay nhỏ là do tâm mình. Còn nếu đem so sánh giữa hai hành giả tùy theo căn cơ, phước đức và sự mở tâm của mỗi người mà có sự khác biệt. Tuy nhiên, nếu gắng công tu để đạt được sự “tương ưng” thì cái thành tựu ban đầu nhỏ sau cũng sẽ lớn lên vô hạn. Do đó người hành giả đừng sợ là không thành tựu và cũng đừng buồn khi thành tựu nhỏ. 

Hỏi: Muốn tu Mật Tông thì cần có những điều kiện gì? 
Đáp: Cửa Phật rộng mở không ngăn chê ai nên không cần điều kiện. Chỉ cần người tu thực lòng muốn “cứu độ chúng sanh” là tu được thôi. Nếu ta đã sắn đức tin và có lòng từ thì ta tu đâu có gì trở ngại. 

Hỏi: Điểm nào là điểm mà Mật Tông hơn hẳn các tông phái khác? 
Đáp: Mật Tông chỉ đem so sánh với các tông phái khác để biết sự khác biệt thôi, chứ không phải để phân biệt hơn kém. 

Hỏi: Vậy thì sự khác biệt ra sao? 
Đáp: Điểm nổi bật và dễ nhận thấy nhất, đó là Mật Tông lấy “Chú” làm phương tiện, và do phương tiện này đem đến những lợi ích đặc biệt lớn lao. 

Hỏi: Lợi ích đặc biệt thế nào? 
Đáp: “Nghiệp” là cái đem con người trôi lăn trong sanh tử luân hồi, nay nhờ “Chú”, ta chuyển được Nghiệp, giải được Nghiệp để sớm giải thoát. Đó là điểm khác biệt quan trọng nhất của Mật Tông so với tông phái khác. 

Hỏi: Còn điểm nào khác nữa?
Đáp: “Chú” còn giúp hành giả lập công bồi đức và tiêu tội nữa. Đấy là chỉ kể những lợi ích thiết thực cho vấn đề giải quyết sanh tử luân hồi thôi, chứ chưa nói đến lợi ích chữa bệnh, tăng thêm thọ mạng… 

Hỏi: Phật tử theo tông phái khác, nay xem kinh sách rồi tự mình “trì CHÚ” và “bắt ẤN” như vậy có được không? 
Đáp: Được chứ, có ai cấm đâu! Tuy nhiên, tu học kiểu đó cũng giống như người mù chơi dao, lợi bất cập hại (lợi ít hại nhiều). 

Hỏi: Tại sao lợi ít mà hại nhiều? 
Đáp: Vì “Chú” là con dao hai lưỡi, nếu biết xài thì rất nhạy bén còn không biết xài thì dễ bị đứt tay. 

Hỏi: Vậy là thế nào? 
Đáp: Đã gọi là “Thần chú” vì có những linh nghiệm lớn, thì cũng có những tác hại không nhỏ cho người hành giả nếu không biết sử dụng. 

Hỏi: Hại ra sao? 
Đáp: Đã có biết bao nhiêu tu sĩ cũng như Phật tử trì chú lâu ngày trở thành khùng điên hoặc bất bình thường. Đó là phản ứng tất nhiên của “Chú”. 

Hỏi: Như vậy, muốn “trì CHÚ” và “bắt ẤN” phải làm sao? 
Đáp: Phải được truyền pháp một cách đúng đắn qua các tu sĩ Mật Tông, hoặc những người tu học Mật, chứ không nên tự mình làm ẩu. 

Hỏi: Muốn được truyền pháp thì phải làm sao? 
Đáp: Thì phải gia nhập dòng pháp Mật Tông. 

Hỏi: Nhập dòng pháp là thế nào? 
Đáp: Là xin theo nhập học, tu theo Mật Tông. 

Hỏi: Gia nhập dòng pháp cần điều kiện gì? 
Đáp: Cửa Phật rộng mở, pháp môn thì nhiều, ai hợp môn nào thì theo môn ấy, không có gì đòi hỏi ở người phát tâm tu hành cả. Mật Tông cũng giống như các tông phái khác là muốn xin học thì phải được làm lễ ra mắt với chư Phật, với Tổ Pháp bằng một lễ “Quy y Quán Đảnh”. 

Hỏi: Phật tử đã quy y rồi, thuộc tông phái khác, nay theo Mật Tông được không? 
Đáp: Đã quy y rồi thì không cần quy y nữa, nhưng phái làm lễ “Quán đảnh”. Đang theo tông phái khác mà nay muốn theo Mật Tông thì phải xin phép “Sư Môn”, tức xin phép thầy mình đã, khi được chấp thuận thì mới xin gia nhập được. 

Hỏi: Xin cho biết sơ qua về lịch sử Mật Tông. 
Đáp: Mật Tông là một tông phái của Đạo Phật đã có từ lâu, nhưng ít phổ biến như các tông phái khác vì nhiều lý do (xem phần III nói về quan niệm của người tu Mật Tông sẽ rõ). Đại để, có thể nêu ra một vài điểm: - Vì Mật nên không truyền rộng được, 
- Vì rất ít người có đủ căn cơ để tu học và có duyên để gặp, 
- Vì nhân duyên của chúng sinh khi nào hội đủ thì Mật Tông mới có mặt. Do đó lịch sử của Mật Tông không có một sự truyền thừa tuần tự từ vị tổ này đến vị tổ khác, đời này tiếp đời khác như Thiền Tông hay Tịnh Độ. Mật Tông đi chìm, chỉ nổi khi cần cứu độ chúng sanh, sau lại chìm đi không để ai biết. Đó cũng là đặc điểm của Mật Tông vậy. Tuy nhiên, Mật Tông khi truyền qua Nhật thì ở đây cũng tạm lập một hệ thống truyền thừa như sau: Tổ Pháp là đức ĐẠI NHẬT NHƯ LAI, sau truyền cho ngài KIM CANG TÁT ĐỎA, Ngài KIM CANG TÁT ĐỎA truyền cho ngài LONG MÃNH vv.. 
theo hệ thống dưới đây: 

1. Đại Nhật Như Lai 
2. Kim Cang Tát Đỏa 
3. Long Mãnh tức Long Thọ 
4. Long Trí 
5. Kim Cang Trí 
6. Bất Không 
7. Huệ Quả (Trung Quốc) 
8. Không Hải (Nhật Bản) Ở Việt Nam thì đời nhà Lý có các Pháp sư nổi tiếng như: - Từ Đạo Hạnh 

- Nguyễn Minh Không. Đời Trần, đời Lê sau này cũng có nhưng không hiển lộ và không lập môn phái. 

Hỏi: Mật Tông thịnh hành nhất ở đâu?
Đáp: Như trên đã nói, Mật Tông không phổ biến nên ở nước nào cũng có, nhưng đem hành sử một cách rộng rãi thì rất khó thấy được, nhất là ở trong các nước mà Phật giáo chiếm đa số dân chúng. Tuy nhiên có thể nói đến một nước tiêu biểu nhất có nhiều người tu Mật Tông, đó là Tây Tạng trước năm 1950, và bây giờ là ở Nhật. 

Hỏi: Đức Đại Nhật Như Lai thành Phật bao giờ, lại gọi là Tổ Pháp? 
Đáp: Đức Đại Nhật Như Lai thành Phật trên cõi trời Vô Sắc, thuyết pháp độ sanh từ ở đó. Ngài là một hóa thân của đức TỲ LÔ GIÁ NA. Ngài là pháp thân. Vì ngài thuyết kinh Đại Nhật, Ngài dạy về pháp Mật nên tôn ngài là Tổ Pháp của Mật Tông. 

Hỏi: Mật Tông có kinh riêng à? 
Đáp: Kinh chỉ là phương tiện hướng dẫn tu hành. Những kinh thuyết riêng về Mật Pháp cho người tu Mật Tông hành trì gồm có: 

- Kinh Đại Nhật 
- Kinh Kim Cang Đảnh 
- Kinh Tô Tất Địa 
- Kinh Mật Nghiêm… Kinh Đại Nhật tức là kinh “Tỳ Lô Giá Na thành Phật”. Và Tạng cũng có bộ “Mật Tạng”. Nhưng đại để những kinh sách này hầu như chưa được dịch sang tiếng Việt, nếu có chăng, chỉ là những phần “trích dịch” mà thôi, phần đông còn là chữa Hán. Đây cũng là một khó khăn không nhỏ cho người tu Mật thời nay, nhưng đây không phải là một trở ngại. 

HÀNH GIẢ MẬT TÔNG hành cước khắp nơi, 
Không nơi ngừng nghỉ chẳng dời chân tâm. 
Đi vào cuộc sống âm thầm 
Quên mình vì đạo chẳng nhằm lợi danh. 
Hàng ngày trong việc độ sanh, 
Sống vì trần thế đấu tranh chẳng ngừng. 
Đi hoài chẳng có chỗ dừng, 
Nơi nào cần tới vui mừng đến ngay. 
Thời gian chẳng kể đêm ngày, 
Cứ đi, đi mãi như say tình đời. 
Làm tròn “Mật Hạnh” sáng ngời, 
Ra vào cuộc thế như chơi ván cờ.

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

Trùng Tang - Nhập Mộ - Cánh Tính và Cách Hóa Giải

Có những cái chết đến đột ngột và liên tiếp trong một gia đình, dòng tộc khiến nhiều người không khỏi khiếp sợ và gọi đó là thảm họa “trùng tang”

Dân gian Á Đông xưa rất quan tâm đến nghi thức an táng cho người vừa mới mất. Người xưa cho rằng người ruột thịt vừa mất có ảnh hưởng tốt, xấu tới những người thân cùng huyết thống đang sống. Do vậy, họ có nhiều nghi thức tế lễ, an táng cho người mới ra đi vào cõi vĩnh hằng. Một trong những nghi lễ quan trọng hàng đầu đó là tính xem tuổi, tháng, ngày, giờ của người mất có hợp với quy luật cuộc đời của “chính họ” hay không. Dựa vào tuổi của người mất và ngày, tháng, giờ mất của họ để tính xem: người đó có được “nhập mộ” hay gặp phải “thiên di”, “trùng tang”.

KHÁI NIỆM:

Theo kinh nghiệm, cổ nhân cho rằng trong thực tế, với mỗi người chết sẽ xảy ra các trường hợp như sau:



     * THIÊN DI:  là dấu hiệu có sự di dời hình thức tồn tại do trời định, là lúc "trời" đưa đi. Dự báo con cháu sẽ phải chia ly, tài sản phân tán, tranh chấp kiện tụng.

     * NHẬP MỘ: là dấu hiệu phải "ra đi", "nằm xuống" vĩnh viễn, không còn liên quan gì đến trần ai. Thể hiện sự an lành, yên nghỉ. Chỉ cần một “nhập mộ” của tuổi hoặc tháng, ngày giờ là được coi là tốt. Dự báo vong chết không phạm trùng tang, mãn kiếp sa bà, con cháu làm ăn thịnh vượng, phát tài , sai lộc.

     * TRÙNG TANG: Là dấu hiệu "ra đi" không hợp số phận, không dứt khoát, hãy còn "ảnh hưởng" tới trần ai. Dự báo sẽ có người thân chết theo. Theo quan niệm xưa, nếu gặp phải trùng tang mà không có “nhập mộ” nào thì cần phải mời người có kinh nghiệm làm lễ “trấn trùng tang”.

Như vậy, "Trùng tang là tình trạng trong thời gian chưa mãn Đại Tang, hoặc chưa mãn tang bà con gần, lại tiếp theo 1 cái đại tang hoặc 1 cái đại tang gần khác". Hoặc có thể gọi trùng tang là tang chủ phải mang ít nhất 2 vòng khăn tang trong cùng một thời điểm. Trong nhà, người thân vừa nằm xuống lại có nguy cơ liên táng là đáng lo ngại. Dân gian cho rằng trùng tang là người qua đời gặp ngày giờ xấu, cần hoá giải để tránh nguy cơ.


TRONG ĐÓ:
- Trùng tang ngày là nặng nhất (Tam xa-7 người chết theo),
- Trùng tang Tháng là nặng nhì (Nhị xa-5 người chết theo),
- Trùng tang Giờ là nặng thứ ba (Nhất xa-3 người chết theo),
- Trùng tang Năm là nhẹ nhất.



CÁCH TÍNH:  Mất dưới 10 tuổi không tính trùng tang.



Trường hợp 1:  Trùng tang có thể là thời gian lúc mất, trùng năm (như người tuổi Dần mất năm Dần), trùng ngày (như người tuổi Sửu mất ngày Sửu), trùng giờ (như người tuổi Ngọ mất giờ Ngọ)


Trường hợp 2: Cách tính phổ biến (dựa trên tuổi âm lịch):


  • Dùng 12 cung địa chi trên bàn tay để tính. Nam khởi từ DẦN tính theo chiều thuận, Nữ khởi từ THÂN tính theo chiều nghịch.
  • TUỔI: Bắt đầu là 10 tuổi, cung tiếp theo là 20 tuổi, cung tiếp là 30 tuổi, … tính đến tuổi chẵn chục của tuổi người mất. Sau đó cung tiếp theo là tuổi lẻ tính đến tuổi của người mất (1,2,3), gặp ở cung nào thì tính là cung tuổi.
  • THÁNG: Từ cung tuổi, tính cung tiếp theo là tháng 1, tính lần lượt đến tháng mất, gặp cung nào thì cung đó là cung tháng.
  • NGÀY: Từ cung tháng, tính cung tiếp theo là ngày 1, tính lần lượt đến ngày mất, gặp cung nào thì tính cung đó là cung ngày.
  • GIỜ: Từ cung ngày, tính cung tiếp theo là giờ tý, tính lần lượt đến giờ mất, gặp cung nào thì tính cung đó là cung giờ  Chú ý giờ âm lịch chỉ chia một ngày ra 12 giờ: Tý (23-01 giờ), Sửu (01-03 giờ)...Hợi (21-23 giờ).



Nếu các cung tuổi, tháng, ngày, giờ gặp các cung:


  • Dần – Thân – Tị – Hợi: thì là gặp cung Trùng Tang
  • Tý – Ngọ – Mão – Dậu: thì là gặp cung Thiên Di
  • Thìn – Tuất – Sửu – Mùi: thì là gặp cung Nhập Mộ.

Chỉ cần gặp được một cung Nhập mộ là coi như yên lành, không cần phải làm lẽ trấn trùng tang  (một Nhập mộ xoá được 3 Trùng tang). Hoặc được 2 Thiên di thì cũng không lo vì “nhị thiên di sát nhất trùng” (2 Thiên di xoá được 1 Trùng tang)


Ví dụ 1:

 Tính cho c ông mt gi Tý, ngày 3, tháng 3 th 83 tui.
C
 ông Khi t cung Dn tính chiu thun: 10 tu Dn, 20 tu Mão, 30 tu Thìn… 80 tu Du, đến tui l 81  Tut, 82  Hi, 83  Tí. Vy cung tui là cung Tý là cung Thiên Di.
Tính ti
ếp tháng 1 là Su, tháng 2  Dn, tháng 3  Mão, vy cung tháng là Mão là cung Thiên Di.
Tính ngày m
ng 1 là Thìn, ngày mng 2 là T, mng 3 là Ng, vy cung ngày là Ng gp Thiên Di.
Tính ti
ếp cho gi, gi Tý ti Mùi, vy cung gi là cung Mùi được cung nhp m.


Tổng kết:
Năm: Thiên Di | Tháng: Thiên Di | Ngày: Thiên Di | Gi: Nhp M
Nh
ư vy c ông có 3 cung thiên di, 1 cung nhp m. Vy là hp vi l trời và đất.


Ví dụ 2:

 Nam mt năm 32 tui, gi 3h sáng, ngày 6, tháng 2.
Đàn ông b
m t cung Dn là 10, Mão 20, Thìn 30, T 31, Ng 32. Cung Thiên Di
M
t tháng 2 thì bm tiếp là Mùi 1, Thân 2, Tháng Thuc Trùng Tang Nht Xa
Ngày 6 thì b
m tiếp là Du 1, Tut 2, Hi 3, Tý 4, Su 5, Dn 6. Ngày thuc Trùng Tang Nh Xa
Đ
ến Gi mt : mt 3h sáng ( Gi Dn ) thì bm tiếp là Mão ( tý ) Thìn ( su ) T ( Dn ) dng ti đó xem T rơi vào Trùng Tang Tam Xa.


Tổng kết:Năm: Thiên Di | Tháng: Trùng tang | Ngày: Trùng tang | Gi: Trùng tang
Nh
ư vy c người mt rơi vào Trùng tang.


Ví dụ 3:
 Nam 74 tui, chết tháng 4, ngày 3, gi Mão thì ta bm như sau
Bm Năm : bt đu t cung Dn là 10, Mão 20, Thìn 30, T 40, Ng 50, Mùi 60, Thân 70, Du 71, Tut 72, Hi 73, Tý 74. vy là chết 74 tui vào Cung Tý. so vi bng tính  trên Cung Tý là Thiên Di vy là Năm Thiên Di.
B
m Tháng : bt đu t tháng 1 vào cung Su, tháng 2 dn, tháng 3 Mão, tháng 4 Thìn.vy là chết tháng 4 vào cung Thìn. So vi bng tính  trên là Nhp M vy là Tháng Nhp M.
B
m Ngày : Bt đu t mng 1 vào cung T, mng 2 Ng, mng 3 Mùi, vy là chết ngày mng 3 vào cung Mùi, so vi bng tính  trên là Nhp M vy là Ngày Nhp M.
B
m Gi : Bt đu t gi Tý vào cung Thân, gi su (Du ), Gi Dn ( Tut ), gi Mão ( Hi ) vy là chết vào gi Mão rơi vào cung Hi, so vi bng tính  trên là Trùng Tang vy là Gi Trùng Tang.


Tổng Kết: Năm: Thiên Di |Tháng : Nhp M | Ngày : Nhp Mộ | Giờ : Trùng Tang.


Tổng hợp nhanh:

 - Tý, Ng, Mão, Du nếu chết vào mt trong các năm TÝ, NG, MÃO, DU thì rơi vào trùng tang;
- Ho
c: Dn, Thân, T, Hi nếu chết vào mt trong các năm DN, THÂN , T, HI thì rơi vào trùng tang;
- Thìn, Tu
t, Su, Mùi nếu chết vào mt trong các năm THÌN - TUT - SU - MÙI có nghĩa là chết vào các năm “xung” (t hình xung) s b trùng tang.


Chúng ta có thể dùng bảng để tính, hoặc dùng bàn tay để bấm Trùng tang cũng được kết quả như trên.



Trường hợp 3: (trùng tang do chôn sai ngày)
Việc tính trùng tang phải xem người chết chôn vào ngày nào nữa, nếu chết chôn:


  • Tháng giêng: ngày 7-19
  • Tháng hai, tháng ba: ngày 6-18-30.
  • Tháng tư :ngày 4-16-28.
  • Tháng năm, tháng sáu: ngày 3-15-27.
  • Tháng bảy: ngày 1-12-25.
  • Tháng tám, tháng chín: ngày 12-24.
  • Tháng mười: ngày 10-22.
  • Tháng mười một - tháng chạp: ngày 9 -21.

Nếu người chết mà chôn vào các ngày trên thì được tính trùng tang, cần phải giải ngay.


Trường hợp 4: Trùng tang liên táng


  • Tuổi Thân Tý Thìn chết năm tháng ngày giờ Tỵ.
  • Tuổi Dần Ngọ Tuất chết năm tháng ngày giờ Hợi.
  • Tuổi Tỵ Dậu Sửu chết năm tháng ngày giờ Dần.
  • Tuổi Hợi Mão Vị chết năm tháng ngày giờ Thân.

Chết ngày giờ trên gọi là ngày giờ kiếp sát (theo Tứ trụ). Dân gian gọi là Cướp Sát.

Trường hợp 5: Mất vào ngày thần Trùng


Tháng 1.2.6.9.12: Chết nhằm ngày Canh Dần hay Canh Thân là phạm Thần Trùng " Lục Canh Thiên Hình ". Nếu thêm thấy năm tháng cũng vậy là càng nặng. 
Tháng 3: Chết nhằm ngày Tân Tị hay Tân Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Tân Thiên Đình " , nếu gặp thêm năm , tháng nữa càng nặng hơn 
Tháng 4: Chết nhằm ngày Nhâm Dần hay Nhâm Thân là phạm Thần Trùng " Lục Nhâm Thiên Lao " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng 
Tháng 5: Chết nhằm ngày Quý Tị hay Quý Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Quý Thiên Ngục " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng 
Tháng 7: Chết nhằm ngày Giáp Dần hay Giáp Thân là pahm5 Thần Trùng " Lục Giáp Thiên Phúc " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng 
Tháng 8: Chết nhằm ngày Ất Tị hay Ất Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Ất Thiên Đức " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng 
Tháng 10: Chết nhằm ngày Bính Dần hay Bính Thân là phạm Thần Trùng " Lục Bính Thiên Uy ". nếu gặp thêm năm tháng càng nặng 
Tháng 11: Chết nhằm ngày Đinh Tị hay Đinh Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Đinh Thiên Âm " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng



CÁCH HÓA GIẢI:

Xin chia sẻ một số cách hóa giải dân gian thường dùng:

1. Xin tro hóa vàng tại chùa, và rải đều thành lớp dưới hố trước khi hạ quan tài.

2. Gửi vong lên chùa để “nhốt trùng”. Những ngôi chùa được chọn phải là chùa có uy tín trong việc giữ vong.
3. Dùng bài thuốc trấn trùng với các vị như thần sa, chu sa, sương luật, địa liền… cho vào túi rồi yểm trong quan tài
4. Dùng các bộ linh phù để trấn bằng cách dùng linh phù để gối đầu người đã khuất, dán lên giữa ngực, giữa rốn, hoặc lót dưới quan tài
5. Dùng bài thuốc kết hợp giữa Sớ, Phù Bắc Tông và Kỳ nam để xông vào mộ và người sống, để cầu siêu, giải thoát cho trùng, biến từ âm binh thành thiên binh
6. Áp dụng phương pháp làm huyệt giả, đổ tỏi vào huyệt khi lấp đất hay dùng thần chú, Bát quái trận đồ trấn âm trạch để hoá giải
7. Tìm 1 bộ bài Tổ tôm cũ (tức là đã chơi cũ rồi) bỏ mấy con Bát sách đi, số còn lại lấy rải đều ở 4 góc quan tài trong lúc đang liệm

Hiện tại cho đến nay thì vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về bản chất của hiện tượng “trùng tang”. Ngay đến một số nhà nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người cũng không muốn đưa ra bất kỳ phát biểu nào xung quanh hiện tượng này.

BUILDBN ST

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Đây chính là ác giả ác báo


Sống thế nào thì chết thế nấy, sống lượng thiên hiền lạnh tốt bụng tu tâm dưỡng tánh thì tốt, còn sống mà lòng dạ tà tâm, luôn nghĩ đến việc làm hại người khác thì xẹm hậu quả nhé.
Đây chính là ác giả ác báo
Lam quan tham thì bị thế này đây. 
Đây chính là ác giả ác báo
Hết dám bỏ cơm thừa nữa hixhix 
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Này thì trộm cướp này
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Còn ai dám mở miệng chưởi thề nữa không nhé
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Kinh qua hixhix
Đây chính là ác giả ác báo
Những ai tọc mạch gây hại người khác thì bị thế này đây
Đây chính là ác giả ác báo
Hài người khác bị tội oan.
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Tội nào cũng bị hành đau đớn hixhix
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Đây chính là ác giả ác báo
Xem đến đây thì các bác cũng đã biết chúng ta cần phải sống thế nào cho phải phép rồi nhé, sống sao để đến khi chết không bị đau đớn như thế này nhé các bạn.