Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

BỐ TRÍ THIẾT KẾ CHO NHÀ CÓ 2 PHÒNG NGỦ

Có rất nhiều mẫu thiết kế, mô hình nhà mẫu có hai phòng ngủ, cũng như cách bài trí, sắp xếp nội thất cho các bố, mẹ xem tham khảo đây. 

Căn hộ mẫu này thuộc dạng phổ biến rất được ưa chuộng với hai phòng ngủ của cha mẹ và con liền kề, ban công rộng rãi và tất cả các khu vực chính đều có ánh sáng tự nhiên.
Hai phòng ngủ đều khá rộng với đầy đủ tiện nghi, tủ đựng đồ được bố trí gọn gàng.
Ngôi nhà có ưu điểm là ban công rộng nhưng khu vực bếp và bàn ăn hơi nhỏ.
Hai ban công rộng giúp các thành viên trong nhà có thể tiếp cận khí trời từ nhiều phòng khác nhau.
Phòng khách, bếp, bàn ăn liên thông tạo thành một không gian sinh hoạt chung rộng.
Căn nhà không vuông vắn nhưng lại có nhiều cửa sổ giúp nhà thông thoáng.
Căn hộ có diện tích hạn chế nhưng đáng đầu tư với ban công chạy dọc nhà.
Bốn ban công nhỏ tạo ra cảm giác hòa mình với thiên nhiên của căn hộ hẹp.
Các gia đình ở tầng một có thể tham khảo mẫu thiết kế căn hộ đưa được ôtô vào nhà.
Ngoài không gian sinh hoạt chung, các phòng ngủ, gia chủ còn bố trí được cả phòng làm việc.
Cách bố trí mạch lạc của căn hộ nhỏ giúp các thành viên có cả các phòng thay đồ xinh xắn.
Phòng ngủ nhỏ nhưng diện tích dành cho các khu chức năng rất nhiều.
Khu phòng khách, bếp, bàn ăn liên thông nhưng có bố trí hợp lý và phân cách tương đối nhờ đồ vật.
Các khu phụ, phòng thay đồ được bố trí ở góc nhà để dành các không gian có cửa sổ cho phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ.
Cách bố trí hợp lý của một diện tích nhỏ nhưng vẫn đủ các chức năng cơ bản.

Trong các chung cư hiện đại, kiến trúc sư luôn cố gắng để mọi phòng đều có ánh sáng.
Phần ban công rộng giúp chủ nhà tạo ra một không gian ngoài trời tuyệt vời cho các buổi tiếp khách, tiệc tùng.
Căn hộ thích hợp với những người yêu thích màu sắc.

(BuildBN St)

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2015

TRƯỚC KHI QUYẾT ĐỊNH MUA BÁN NHÀ ĐẤT HOẶC XÂY NHÀ, HUYỆT MỘ, NHÀ THỜ,,, CẦN CHÚ Ý NHỮNG ĐIỀU GÌ ?


(Lưu ý: Nếu cần hỏi về vấn đề xây sửa nhà hoặc mua bán nhà đất, hoặc liên hệ với BuildBN, BuildBN sẽ giúp bạn xem xem tuổi xây nhà, ngày giờ động thổ, đổ mái, nhập trạch, xem bố trí phong thủy cho đại môn, ban thờ, bếp,,,
Đây cũng là điều mà nhiều bạn băn khoăn đã gửi câu hỏi tới BuildBN, Các bạn cần lưu ý 1 số vấn đề sau trước khi quyết định, chi tiết:
1, Địa khí của trạch đất (Đây là điều quan trọng nhất quyết định công danh quan lộc cho trạch chủ cũng như các thành viên trong gia đình). ; Nếu Địa khí kém , chúng tôi sẽ tư vấn cách dùng phong thủy để gia tăng Vượng Khí.
2, Nếu bạn đang chuẩn bị xây, hoặc sửa nhà, bạn rất nên dùng bộ tiền cổ ngũ đế (5 đồng tiền cổ từ thấp đến cao) và rải 1 lớp vụn đá thạch Anh nhỏ (loại này BuildBN cung cấp giá không cao, nhưng lại đặc biệt tốt tốt cho phong thủy của trạch nhà) xuống phần nền nhà sẽ rất vượng cho Tài chính cũng như con đường công danh quan lộc của bạn và gia đình sau này, sau khi hoàn thiện , nếu có điều kiện thì nên ưu tiên ốp lát bằng đá thạch Anh sẽ càng Vượng hơn. Bạn nên lưu ý, nếu bỏ lỡ bước này thì rất khó có cơ hội làm lại được.; Nếu không có điều kiện rải kín mặt bằng thì ưu tiên rải đường "Chiêu tài nạp Phúc" và dùng 5 rùa bằng đá thiên định đặt ngũ phương,,
(Nếu cần thiết kế kiến trúc thuận Phong thủy thì vui lòng xin liên hệ)
====================
Rải đá thạch anh trước khi lát nền theo 3 bước:
B1: sau khi là phẳng, đổ 1 lớp vữa xi măng xuống thì bắt đầu đổ đá thạch anh xuống
B2: Dàn đều lớp đá thạch anh vừa đổ xuống
B3: Dùng đầm để hoàn thiện, tạo thành 1 mặt phẳng, và tiến hành lát nền như bình thường (Nếu có bộ tiền cổ thì rải xuống dưới rồi mới lát nền lên trên),

3, Phương vị và Hướng phù hợp cung mệnh và bát trạch của gia chủ; (nếu không hợp cần trấn trạch đúng cách)
4, Ngoại vi tứ diện (Xem có bị phi đao sát, thiên trảm sát, ... hay không ?)
5, Ngày giờ và thủ tục ký hợp đồng mua bán, lễ tạ, động thổ, đổ mái, nhập trạch ...
6, Khai quang, thiết kế phong thủy, và bố trí các vật khí phong thủy cho phù hợp các khối chức năng: Ban thờ gia tiên, ban thờ thần tài, Phòng khách, phòng ngủ, phòng làm việc, phòng sinh hoạt chung, nhà bếp, wc, ...
Công dụng thạch anh có rất nhiều , có thể tổng kết qua câu thơ:
Không muốn lộn xộn, lung tung,
Thạch anh trấn trạch, gia trung hài hoà.
Nhà gần cho đến nhà xa,
Tư nhân, công sở, nhà ga, bến tàu,
Công trường, xưởng máy, đâu đâu,
Cũng dùng Đá quý bắc cầu bình yên.
Doanh nhân ở khắp mọi miền,
Đặt Cầu phong thuỷ, là TIỀN nhập vô
Đeo đá hợp mệnh trên người,
Là bùa hộ mệnh đất trời ban cho!
Hãy dùng đá quý đeo cho khoẻ liền!
Cụ già cho đến thiếu niên,
Gần đá xa bệnh chớ nên nghi ngờ!
(Lưu ý: Nếu cần hỏi về vấn đề xây sửa nhà hoặc mua bán nhà đất, hoặc liên hệ với BuildBN, BuildBN sẽ giúp bạn xem xem tuổi xây nhà, ngày giờ động thổ, đổ mái, nhập trạch, xem bố trí phong thủy cho đại môn, ban thờ, bếp,,,
==================
Thân mến chúc bạn và gia đình Bình An Vượng Đạt
========================================
BuildBN
Thiết kế xây dựng, thi công xây dựng ; Phong thủy và kinh doanh đồ thờ cúng, vật phẩm phong thủy

NHẬN BIẾT HƯỚNG NHÀ VÀ CÁC THẾ PHẠM TỪ NGOẠI CẢNH ĐẾN NGÔI NHÀ HOẶC DOANH NGHIỆP CỦA BẠN

Hướng dẫn cách nhận biết hướng xấu và giải pháp hóa giải những yếu tố xấu ảnh hưởng đến nhà ở hoặc doanh nghiệp của bạn



Chúng tôi BuildBN xin dưa ra Những yếu tố phong thủy có ảnh hưởng rất lớn đến công việc kinh doanh cũng như tài lộc trong gia đình. Nếu bạn áp dụng đúng phong thủy thì sẽ mang lại tài lộc dồi dào, giúp việc làm ăn được thăng tiến, phát đạt. Tuy nhiên có những yếu tố xấu ảnh hưởng đến nhà ở hoặc doanh nghiệp của bạn. Vậy những yếu tố đó là gì? Cách hóa giải chúng ra sao? Trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu đến các bạn cách nhận biết hướng xấu và giải pháp để hóa giải những yếu tố xấu ảnh hưởng đến nhà ở hay doanh nghiệp của bạn.

Phần 1: Cách nhận biết hướng xấu
Theo khoa học phong thủy, mệnh được phân thành 2 nhóm chính: Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh. Tùy theo năm sinh âm lịch của từng người mà họ có thể thuộc 1 trong 2 nhóm này.
- Nhóm đông tứ mệnh là những người thuộc các quẻ mệnh:  Khảm, Chấn, Tốn, Ly thì các hướng tốt xấu như sau:
+ Các hướng tốt: Đông Nam, Nam, Bắc, Đông
+ Các hướng xấu: Tây Nam, Tây, Đông Bắc, Tây Bắc; Khi hướng nhà, hướng bàn làm việc, hướng ban thờ, bếp, két... bị phạm các hướng này thì bạn vui lòng liên hệ với các chuyên gia phong thủy (gọi tắt là Phong thủy BuildBN) để được hướng dẫn cách hóa giải các hướng này
- Nhóm tây tứ mệnh là những người thuộc các quẻ mệnh: Khôn, Càn, Đoài, Cấn , các hướng Cát Hung như sau:
+ Các hướng tốt: Đông Bắc, Tây, Tây Bắc, Tây Nam
+ Các hướng xấu: Bắc, Nam, Đông, Đông Nam; Khi hướng nhà, hướng bàn làm việc, hướng ban thờ, bếp, két... bị phạm các hướng này thì bạn dành 1 phút bấm chuột vào đây hoặc vào đây để liên hệ với BuildBN  để được hướng dẫn cách hóa giải các hướng này
Dưới đây là bảng tra cứu xem năm sinh của bạn thuộc Đông tứ Mạng hay Tây tứ Mạng
 hoa giai huong xau theo phong thuy 1
cach hoa giai huong xau theo phong thuy 2
(Đối chiếu năm sinh: Nam ở trên, nữ ở dưới dòng kẻ-------------------), ví dụ: Nam sinh năm 1972 và nữ sinh năm 1968 đều thuộc KHảm - Đông tứ Mạng; Còn nam sinh năm 1976 và nữ sinh năm 1955 đều thuộc Càn - Tây tứ Mạng

Phần 2: Các phạm kị phong thủy khác: Gồm khu vực xung quanh, vị trí các con đường, hình thể ngôi nhà, vị trí các không gian trong bản thân ngôi nhà của bạn: phòng khách, bếp, ban thờ, két tiền, phòng ngủ, wc, cầu thang, phòng làm việc...
A, Nhìn ra khu vực xung quanh nhà hoặc doanh nghiệp của bạn
1. Thiên trảm sát
thien-tram-sat.gif
- Thiên trảm sát là khoảng giữa hai căn nhà phía đối diện trước mặt là một đường hẻm nhỏ ( hoặc 1 khe trống nhỏ) xung chiếu với ngôi nhà.
- Nhà bị Thiên trảm sát thì lực khí di chuyển tại khe nhỏ đó rất mạnh, phát sinh nhiều dòng “khí đen” di chuyển đến nhà (khí đen mắt thường không nhìn thấy, và có tác dụng xấu đến sức khỏe cũng như tài vận của gia trạch).
- Nhà bị Thiên trảm sát sẽ khiến cho gia trạch làm ăn khó khăn, tài lộc không tụ, sức khỏe của người trong gia đình hay bị tổn thương. Bởi theo phong thủy thì “Thiên trảm sát” tức là bị một cái đao của trời chém xuống, cho nên đây là một cách cuộc rất xấu.
2. Phi nhận sát
phi-nhan-sat.gif
- Phi nhận sát là trường hợp nhà có góc tường của ngồi nhà đối diện chiếu tới.
- Nhà bị Phi nhận sát, thì chủ về gia đình làm ăn hay bị bạn bè lừa đảo, không chung thực nên hao tài tốn của, cũng chủ về sức khỏe của người trong trong gia đình hay bị bệnh tật và ốm đau.
3. Tiêm xạ sát (phi đao sát hoặc phi tiễn sát, tiễn xạ sát)
tiem-xa-sat.gif
- Tiêm xạ sát là trường hợp nhà bị một bức tường hay góc nhà của nhà đối diện tạo thành một góc chiếu tới. Góc nhọn này sẽ tạo thành một mũi tên bắn tới nhà.
- Nhà bị Tiêm xạ sát thì chủ về người trong gia đình gặp họa huyết quang, tài vận không thể tích tụ, bị phá tài do sức khỏe, bị phá tài do bị người khác lừa.
3. Xuyên tâm sát
xuyen-tam-sat.gif
- Xuyên tâm sát là trường hợp phía trước ngôi nhà đối diện có vật trụ hình thẳng đứng, chẳng hạn như: cột điện, cột biển báo giao thông, cây to lớn….(trước cửa nhà bạn hoặc nhà đối diện)
- Nhà phạm vào Xuyên tâm sát thì chủ về gia đình gặp họa huyết quang, bệnh tật, kiện tụng, làm ăn không gặp may.
4. Kình quyền sát
kinh-quyen-sat.gif
- Kình quyền sát là trường hợp trước nhà hoặc trươc cửa sổ thấy một bộ phận lồi ra của tòa nhà hay ngôi nhà đối diện chiếu tới.
- Nhà phạm Kình quyền sát thì chủ về tai họa huyết quang, có bệnh ở phần ngực, làm ăn hay bị phá, hao tài, không tích lũy được tài của.
5. Kim tự sát
kim-tu-sat.gif
- Kim tự sát là trường hợp trước nhà thấy một bộ phận thành hình tam giác (giống như chữ kim trong chữ hán) trên nóc của tòa nhà.
- Nhà phạm Kim tự sát, thì chủ về tai họa huyết quang, khó tụ tài, hao tài.
6. Phản quang sát
phan-quang-sat.gif
- Phản quang sát là trường hợp trước nhà có một nhà đối diện hoặc tòa nhà đối diện, mà bên ngoài tường toàn chất liệu bằng kính. Kính phản chiếu ánh sáng bắn vào bên trong gia trạch.
- Nhà phạm Phản quang sát, chủ về những người trong nhà gặp tai họa về huyết quang, tỳ khí rối loạn, hòa khí bất an, hay nóng giận.
7. Cô dương sát
co-duong-sat.gif
- Cô dương sát là trường hợp nhà gần các nơi như: Am miếu, chùa chiền, nhà thờ, đình làng…
- Nhà phạm Cô dương sát thì chủ về người trong nhà có tính cách cô độc, tỳ khí rối loạn, không tụ được tài của.
8. Độc âm sát
doc-am-sat.gif
- Độc âm sát là trường hợp nhà quá gần nghĩa trang, nhà tang lễ, bệnh viện, nghĩa trang…
- Nhà phạm Độc âm sát chủ về người trong nhà gặp nhiều bệnh kín, khí vận kém, ngủ thường hay mơ màng kinh dị, tài vận không tụ.
9. Thám đầu sát
tham-dau-sat.gif
- Thám đầu sát là trường hợp phía sau của tòa nhà lớn đối diện với phía trước có một mái hiên cao, đỉnh của nó nhô lên (Những nhà ở đối diện các tòa nhà chung cư thường bị).
- Nhà phạm Thám đầu sát chủ về người trong nhà có thiếu niên bất lương dễ phạm vào trộm cướp, tài vận kém.
10. Đoạn hổ sát
đoạn hổ sát
- Đoạn hổ sát là trường hợp phía trước nhà đối diện có mái nhà hình chữ L, hay hình như một cái miệng con cá nhô ra.
- Nhà phạm Đoạn hổ sát, chủ về việc tài khí khó tụ, hay bị đố kỵ rèm xiển, bị tiểu nhân quấy nhiễu, nhiều chuyện thị phi.
              
11. Kiệu sát
kieu-sat.gif
- Kiệu sát là trường hợp phía trước nhà rất gần một tòa nhà nguy nga to lớn hơn bản trạch rất nhiều.
- Nhà phạm Kiệu sát, chủ về việc dễ bị lừa dối, sự nghiệp không thành công, kinh doanh không có khách hàng.
12. Thương sát
thuong-sat.gif
- Thương sát là trường hợp trước nhà phía đối diện có một hẻm cụt hoặc đường cụt chiếu vào nhà.
- Nhà phạm Thương sát thì chủ về sức khỏe kém, sự nghiệp không thuận lợi.                       
14. Hỏa sát
hoa-sat.gif
- Hỏa sát là trường hợp gần nhà thấy một cái tháp anten, tháp điện biến thế, hoặc vật gì nhọn đầu….
- Nhà phạm vào Hỏa sát thì người nhà sẽ bị sức khỏe yếu kém, bị hỏa hoạn.              
15. Xung thiên sát
xung-thien-sat.gif
- Xung thiên sát là trường hợp nhà gần công xưởng lớn, mà công xưởng có rất nhiều khói bốc lên.
- Nhà phạm Xung thiên sát thì chủ về sức khỏe kém, tai họa và tổn thất ngoài ý muốn.     
16. Thanh sát
- Thanh sát là trường hợp gần nhà có các công trường, nhà xưởng, bến tàu, gần đường tàu chạy, tạo thành những âm thanh lớn và thường xuyên.
- Nhà phạm vào Thanh sát thì chủ về người trong gia đình mắc các bệnh về tai, tỳ khí rối loạn. Nếu ngay cạnh đường tàu chạy thì khó tụ tài.
17. Quang sát
- Quang sát là trường hợp đối diện nhà có trụ đèn điện chiếu sáng, tối đến ánh sáng bắn vào nhà.
- Nhà phạm Quang sát thì chủ về người trong nhà tinh thần kém, tỳ khí rối loạn, hay mơ màng ác mộng.
18. Hổ cường long nhược
ho-cuong-long-nhuoc.gif
- Hổ cường long nhược là bên hông phải ngôi nhà có một tòa nhà to hơn ngôi nhà của gia trạch.
- Nhà phạm vào Hổ cường long nhược thì chủ về việc khách trong nhà nhiều thị phi, tiểu nhân.
19. Long cường hổ nhược
long-cuong-ho-nhuoc.gif
- Long cường hổ nhược là trường hợp bên trái ngôi nhà của gia trạch có một ngôi nhà hay tòa nhà to hơn.
- Nhà được Long cường hổ nhược thì chủ về khách trú trong nhà nhiều người sang quý trợ giúp, dễ được cấp trên giúp đỡ.
20. Long hổ bão
long-ho-bao.gif
- Long hổ bão là trường hợp hai bên trái và phải có hai tòa nhà to nhưng nhỏ hơn nhà của gia trạch.
- Nhà được trường hợp Long hổ bão thì chủ về về cát lợi.
21. Thích diện sát
- Thích diến sát là trường hợp trước nhà phía đối diện có gò, đồi hoặc núi đá.
- Nhà phạm Thích diện sát thì chủ về người trong nhà dễ có hành vi phạm tội, hoặc bị trộm cướp.
22. Quyển liêm thủy
- Quyển liêm thủy là trường hợp đối diện với nhà phía trước có vùng đất thoai thoải thấp dần xuống, gọi là “Quyển liêm thủy” hay còn gọi là “khẩu thủy trực”
- Nhà mà phạm vào quyển liêm thủy thì chủ về tài vận kém, người trong nhà cô quả.
23. Ngự nhai thủy
ngu-nhai-thuy.gif
- Ngự nhai thủy là trường hợp xa xa phía trước nhà co nhiều từng đồi núi cao dần lên.
- Nhà được thế Ngự nhai thủy thì chủ về tài phú vào nhà cuồn cuộn, chủ giàu có.
C, Quan sát CÁC CON ĐƯỜNG gần nhà bạn
Đường sá có nhiều hình thức ảnh hưởng khác nhau đến dương trạch, dưới đây là các cuộc cát, hung điển hình liên quan đến đường sá (về thủy lộ cũng luận giống vậy).
1. Thương sát
- Thương sát là lực lượng làm tổn thương người trong bản trạch. Trước nhà có con đường đâm thẳng tới là thương sát. Phạm kỵ điều này là chủ trong nhà ngày càng suy thoái về kinh tế, hay bị thất bại trong kinh doanh,người trong nhà hay bị thương tật…
2. Xung bối sát
xung-boi-sat.gif
- Con đường đâm thẳng tới phía sau lưng nhà là cuộc Xung bối sát, chủ về bị tiểu nhân quẫy nhiễu, làm ăn hay bị người khác lừa đảo, cho dù chủ nhân trong nhà đó có trân thành hay làm tốt đến đâu thì cũng không được cấp trên chiếu cố.
3. Tà thương sát
ta-thuong-sat.gif

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

10 điều chồng nên biết khi vợ mang thai


Chăm sóc vợ mang thai, người chồng nên lưu ý 10 điều sau để có thể chăm sóc cả mẹ và thai nhi phát triển khỏe mạnh.

Đưa vợ đi khám thai định kỳ
10 dieu chong nen biet (2).jpg
Chồng nên đưa vợ đi khám thai thường xuyên 
Đây là việc làm cần thiết để theo dõi tình trạng sức khỏe của mẹ và thai nhi. Đồng thời, thường xuyên đi khám thai, giúp phát hiện ra những dấu hiệu bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời.
Nói “không” với thuốc lá, rượu bia

Khi mang thai, người phụ nữ tuyệt đối nên nói không với thuốc lá, rượu bia và những thức uống có ga. Vì những chất kích thích này sẽ ngấm vào máu và truyền đến thai nhi, ảnh hưởng đến hệ thần kinh của em bé. Bên cạnh đó, người chồng cũng lưu ý không nên hút thuốc lá khi vợ mang bầu, vì hút thuốc thụ động cũng có tác hại không kém.

Chăm sóc chế độ dinh dưỡng
10 dieu chong nen biet (3).jpg
Chồng cần quan tâm và chăm sóc khi vợ mang thai
Trong quá trình thai kỳ, chế độ dinh dưỡng cực kỳ quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người mẹ và cả sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên, trong thời gian này, người mẹ thường hay mệt mỏi, do vậy cần sự hỗ trợ và chăm sóc của chồng. 
Nói “không” với thức ăn nguội

Thời kỳ mang thai, người phụ nữ tránh những thức ăn nguội, như các loại thịt nguội, tránh ăn những thức ăn sống dễ bị vi khuẩn xâm nhập ảnh hưởng không tốt đến em bé trong bụng mẹ.

Không ăn quá cay
10 dieu chong nen biet (5).jpg
Không nên ăn đồ cay nóng dễ bị táo bón và ợ nóng trong thai kỳ
Những gia vị cay, nóng như ớt, hạt tiêu, gừng, giềng… mẹ bầu nên hạn chế ăn. Ớt có chứa những chất làm tê liệt thần kinh, nên tạo thành những ảnh hưởng nhất định đối với hệ thần kinh của thai nhi. Riêng đối với những chị em có bánh nhau ngả trước, tuyệt đối không nên ăn ớt trong suốt thai kỳ.
Không uống thuốc tùy ý

Trong quá trình mang thai, người phụ nữ không nên dùng thuốc khi chưa có chỉ định của y bác sĩ. Khi mẹ bị bệnh hãy đến tham vấn ý kiến của bác sĩ để có lời khuyên và chỉ định chính xác nhất.

Tạo môi trường sống trong lành cho mẹ

Thời gian này, người chồng nên chú ý đến môi trường sống của vợ, không cho vợ tiếp xúc với môi trường ô nhiễm, những nơi khí chất độc hại hay các nơi công cộng ồn ào. . . Vì những thứ này có làm cho thai nhi bị đột nhiên biến dạng và có hại cho cả hai mẹ con.

Không cho vợ làm việc nặng

Bạn tuyệt đối không cho vợ làm việc quá sức hay bê vác những thứ nặng, đặc biệt là vào tháng cuối của thời kỳ có thai, điều này gây nguy hiểm cho cả 2 mẹ con.

Không giao hợp 3 tháng cuối thai kỳ
quanhetinhduc__85623_zoom__33041_zoom.jpg
Không nên quan hệ vợ chồng ở những tháng cuối thai kỳ dễ bị sinh non
Trong 3 thái cuối thai kỳ, người chồng nên kiềm chế ham muốn, tránh giao hợp để khỏi làm vỡ túi nước ối và gây nhiễm trùng ảnh hưởng đến người mẹ và thai nhi.

Luôn sát cánh bên vợ

Trong quá trình thai kỳ, người vợ có những biến đổi về mặt thể chất và cả tâm lý, vì vậy người chồng hãy luôn gần gũi, tiến hành thai giáo cùng vợ, lắng nghe thai máy, trò chuyện với thai nhi… Những hành động này giúp vợ giảm bớt tâm lý sợ hãi, lo lắng, cô đơn.


Trích từ Yeutre.vn

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

100 ĐIỀU ĐẠO ĐỨC TẠI GIA


100 ĐIỀU ĐẠO ĐỨC TẠI GIA
Thích Nhật Từ
* * *
Lời Giới Thiệu
Là người mới bắt đầu học Phật, tôi nhận thấy quyển sách nhỏ này thể hiện tốt tinh thần vừa giáo dục vừa khai sáng. Mặc dù đạo Phật có bề dày lịch sử phong phú, đầy những giá trị, điều cần thiết đối với người học Phật ngày nay vẫn là làm thế nào để ứng dụng lời đức Phật dạy vào đời sống hàng ngày. Quyển 100 điều đạo đức tại gia này giúp tôi hiểu tầm ảnh hưởng của đạo Phật đối với cuộc sống thường nhật của con người. Nó có thể được xem như quyển sổ tay hướng dẫn chúng ta sống cuộc đời theo chánh pháp.
Các nguyên tắc này được trình bày giản dị, dễ hiểu, nhưng cống hiến những kiến thức cần thiết không chỉ để đọc mà còn để ứng dụng. Việc thực hiện đúng vai trò của Phật tử ngày nay là một thách thức lớn đối với mọi người, và quyển sách này như là bước đường đáp ứng thách thức đó. Bằng giáo pháp, đạo Phật sẽ dìu dắt bạn trong cuộc hành trình tìm ra chánh đạo. Đó là điểm vĩ đại của giáo pháp đức Phật. Giáo pháp đó vẫn luôn phù hợp với mọi thời đại.
Chính vì thế, bất cứ khi nào bạn có nghi vấn (đức Phật khuyến khích bạn đặt câu hỏi), quyển sách này giúp bạn bước đầu trên con đường tìm ra câu giải đáp.
Gleg Kleven
7-1994
Lời Đầu Sách
Niềm tin là một trong những con đường đi vào Đạo, là chất xúc tác hữu hiệu của khoa học thực nghiệm, phát minh, và còn là nền tảng của mọi lãnh vực tiến triển xã hội. Đối với đạo Phật, để niềm tin phát huy khả năng chủ đạo đặc biệt này, người có niềm tin phải có một thái độ tư duy khách quan, khoa học, như đoạn kinh dưới đây mô tả:
Này các thiện nam, tín nữ, khi nghe một điều gì, các vị phải quan sát, suy tư và thể nghiệm. Chỉ khi nào, sau khi thể nghiệm, quý vị thực sự thấy lời dạy này là tốt, lành mạnh, đạo đức, có khả năng hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán; nếu sống và thực hiện theo lời dạy này sẽ đem đến hạnh phúc, an lạc thực sự ngay hiện tại và về lâu về dài, thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo.(Kinh Bộ Tăng Chi, A. I. 188)
Do đó, để trở thành một người Phật tử, các bạn cần phải có một thời gian nhất định để tìm hiểu đạo Phật. Sự tìm hiểu giáo pháp của đức Phật là điều cần thiết và tất yếu. Đây là động cơ tốt thúc đẩy người Phật tử ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống thường nhật của mình, để đem lại an lạc và hạnh phúc cho bản thân, gia đình và xã hội.
Phát xuất từ suy nghĩ căn bản đó, chúng tôi biên soạn 100 điều đạo đức tại gia này, trước là đáp ứng nhu cầu tìm hiểu vừa nêu, và sau là mong rằng tập sách nhỏ này như là người bạn, là hành trang, là chỉ nam giúp người Phật tử tại gia hoàn thiện nhân cách bản thân, đem lại sự đầm ấm hạnh phúc gia đình và để góp phần xây dựng một xã hội thái bình, an lạc trong chánh pháp của đức Phật.
Về nội dung, chúng tôi chủ yếu đúc kết tinh thần các lời dạy quý báu của đức Phật qua hai truyền thống kinh điển Nam tông và Bắc tông và thể hiện chúng dưới hình thức các nguyên tắc và điều lệ để quý Phật tử dễ nhớ và áp dụng.
Với 18 chương, gồm 100 điều, tập sách nhỏ này sẽ giới thiệu với quý Phật tử các nội dung đạo đức căn bản theo tinh thần Phật dạy. Có chương cho biết các yêu cầu cần và đủ của một người Phật tử. Có chương giới thiệu nội dung của Ba Ngôi Báu. Có chương đề cập năm điều đạo đức. Có chương hướng dẫn cách thờ phượng Phật, Bồ-tát và thánh tăng. Có chương đưa ra chương trình học Phật ngắn gọn. Có chương trình bày cách thức sinh hoạt hữu hiệu. Có chương mô tả về những trách nhiệm thiêng liêng của các bậc cha mẹ. Có chương dạy về cách sống hiếu thảo, đền ơn cha mẹ ngay hiện tại và tương lai. Có chương hướng dẫn đời sống hôn nhân và cách thức tổ chức lễ cưới. Có chương dạy về cách bảo vệ hạnh phúc lứa đôi. Có chương nói về bổn phận thiêng liêng của thầy trò. Có chương dạy cách tương giao bạn bè. Có chương qui định về khế ước lao động giữa người chủ là người làm việc. Có chương gợi nhớ tình quê hương, làng  xóm. Có chương trình bày thái độ ứng xử và giao tế. Có chương hướng dẫn cách tổ chức lễ tang đúng chánh pháp. Có chương giới thiệu cách tu trì và có chương đưa ra 10 điều tâm niệm làm phương châm tu học hiệu quả. Nhìn chung, các điều lệ này nhằm hướng đến một đời sống nhân bản toàn thiện.
Trước khi trở về sống nương tựa Ba Ngôi Báu và phát nguyện vâng giữ năm điều đạo đức, các bạn nên có thời gian vài ba tháng về chùa tìm hiểu giáo lý, nghe giảng pháp tại các trung tâm truyền bá Phật giáo, tự nghiên cứu lời Phật qua các phương tiện truyền thông đại chúng của Phật giáo, và tìm hiểu kỹ các nguyên tắc đạo đức này. Có như vậy, sự trở về đạo Phật của quý vị mới bền và nhất là mới có thể đem lại lợi ích cho chính bạn, gia đình bạn, ngay hiện tại cũng như trong tương lai.
Chúng tôi chân thành cảm ơn quý đại đức Nguyên Tạng, Thiện Hữu, Thiện Quý, Trung Đạo, Phong Nhã, Giác Hoàng, thầy Hồng Sơn, thầy Thanh Trúc đã cho nhiều nhiều ý kiến hay khi chúng tôi biên soạn tập sách này. Đặc biệt, chúng tôi xin chân thành cảm ơn đại đức Nguyên Tạng, đã hoan hỷ chuyển bản dịch tiếng Anh đến GS. Greg Kleven, người đã tận tâm chữa chánh tả cho bản dịch. Nhân đây, chúng tôi cũng xin cảm ơn ông bà giáo sư Lý Phúc Điền đã phát tâm chuyển dịch tập sách nhỏ này ra tiếng Hoa, để nó có thể phục vụ cho nhiều người hơn. Chúng tôi cũng xin chân thành tán thán Sư cô Như Phước và Phật tử chùa Giác Ngộ đã ấn tống tập sách này.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng chắc rằng tập sách còn nhiều thiếu sót và cần phải được bổ sung. Kính mong chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức tăng ni, Phật tử và các bậc thức giả chỉ giáo để tập sách này thật sự là người bạn tin cậy của người Phật tử tại gia.
Mong rằng tập sách nhỏ này sẽ giúp quý Phật tử nói riêng và tất cả mọi người nói chung sống an lành, phúc lạc trong cuộc sống bằng chất liệu chánh pháp của đức Phật.
Tỳ-kheo Thích Nhật Từ
Viết tại chùa Giác Ngộ - Mùa hạ năm 1994
Kính ghi
* * *
CÁC NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC CỦA PHẬT TỬ TẠI GIA
- Để đảm bảo đời sống đạo đức, văn hóa, trí huệ, hạnh phúc, an lạc, giải thoát của người Phật tử;
- Để thực hành và phát huy tinh thần khế lý, khế cơ, ứng thế độ sanh, thắp sáng mãi thông điệp từ bi cứu khổ của đức Phật;
- Căn cứ tinh thần ứng dụng Phật pháp qua 84.000 pháp môn, nhằm xây dựng một Tịnh độ cho tự thân, gia đình và xã hội;
Sách này qui định các nguyên tắc đạo đức của Phật tử tại gia như sau:
CHƯƠNG I: QUI ĐỊNH TỔNG QUÁT
Điều 1: Trước khi đi theo đạo Phật, bạn cần phải tìm hiểu, suy tư lời Phật dạy và luật tắc đạo đức này. Chỉ khi nào bạn nhận thấy rằng đạo Phật là lý tưởng, là chân lý, là sự sống, là sự trưởng thành đạo đức và trí tuệ, bạn hãy phát nguyện trở về sống với gia đình của đạo Phật.
Điều 2: Người Phật tử nên đến với đạo Phật bằng thái độ chánh kiến, chánh tư duy; vâng giữ và thực hành lời vàng Phật dạy, phù hợp với nếp sống đạo đức, luật pháp và chánh pháp; góp phần làm trong sạch và an lạc xã hội.
Điều 3: Người Phật tử là người sống phù hợp và trung thành với lý tưởng chánh pháp, thể hiện đạo đức, văn hóa, trí tuệ, hạnh phúc, an lạc và giải thoát của bản thân, gia đình và xã hội ngay hiện tại và về sau.
CHƯƠNG II: NƯƠNG TỰA BA NGÔI BÁU
Điều 4: Người Phật tử nương tựa đức Phật, bậc đạo sư của trời người, từ nay cho đến trọn đời không nương tựa Trời, Thần, Tiên, Quỷ, vật v. v. . .
Điều 5: Người Phật tử nương tựa chánh pháp của đức Phật, chân lý tối thượng, từ nay cho đến trọn đời không nương theo các học thuyết của các tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, và các chủ nghĩa khác.
Điều 6: Người Phật tử nương tựa cộng đồng Tăng, những bậc chân tu, người kế thừa và truyền bá chánh pháp của đức Phật, từ nay cho đến trọn đời không nương theo thầy tà, bạn xấu và người không thuộc đạo Phật.
Điều 7: Người Phật tử nên có lòng bao dung, phóng khoáng; không kỳ thị chủng tộc, giới tính, màu da, tôn giáo và ý thức hệ v.v. . . Trái lại, người Phật tử nên có tinh thần và thái độ cởi mở, thân thiện, tôn trọng, tìm hiểu, giúp đỡ mọi người để họ có thể nhận ra và sống theo lời Phật dạy dưới tất cả các hình thức.
CHƯƠNG III: VÂNG GIỮ NĂM ĐIỀU ĐẠO ĐỨC
Điều 8: Người Phật tử ý thức và phát nguyện không sát hại sự sống của con người, động vật và thiên nhiên. Phải thể hiện tình thương, tôn trọng và bảo vệ sự sống của muôn loài.
Điều 9: Người Phật tử ý thức và phát nguyện không lấy của không cho, của phi nghĩa, không lường gạt, dối trá, tham nhũng, đút lót, cờ bạc, chứa đồ gian, vay không trả. Phải thể hiện lòng tôn trọng sở hữu tài sản của người khác, sống bằng nghề lương thiện và chân chánh.
Điều 10: Người Phật tử ý thức và phát nguyện không sống ngoại tình, không lang chạ với vợ hay chồng của người khác. Phải tôn trọng hạnh phúc gia đình người khác như của gia đình mình; sống chung thủy một vợ một chồng.
Điều 11: Người Phật tử ý thức và phát nguyện không nói sai sự thật, không nói lời vô ích, không nói lời tục tĩu, không nói lời chia rẽ, gây hận thù. Phải tôn trọng sự thật, giữ gìn chữ tín. Khi nói thì nói đúng với chánh pháp, khi không thể nói thì phải im lặng như sự im lặng của bậc thánh.
Điều 12: Người Phật tử ý thức và phát nguyện không uống rượu và không sử dụng các chất kích thích tố có tác dụng hủy hoại sức khỏe, tinh thần, trí lực và nhân cách như á phiện, ma túy và các độc tố khác. Phải tự trọng, bảo vệ sức khỏe và giữ gìn nhân cách.
CHƯƠNG IV: THỜ PHƯỢNG
Điều 13: Người Phật tử thờ phượng ảnh tượng Phật, Bồ-tát, A-la-hán và Thánh Tăng để chiêm bái, học hỏi hạnh nguyện cao cả của quý ngài, để làm chỗ dựa tinh thần và hộ trì đạo đức cho bản thân và gia đình.
Điều 14: Người Phật tử không thờ một thần hay nhiều thần của các tôn giáo và tín ngưỡng khác. Không thờ Thượng đế, Phạm thiên, Chúa Trời, đấng Allah, đấng Jahovah v.v. . . Không thờ Thần Tài, Thổ Địa, Táo Quân, Cửu Thiên Huyền Nữ, Mẹ Sanh Mẹ Độ, bà Chúa Xứ, Quan Thánh v. v. . . Không lễ Miếu, Đình, Đồng cốt. Không bói quẻ, xin xăm. Không tín ngưỡng những nơi được đồn là linh thiêng. Người Phật tử nên hiểu không có cội nguồn ban phước giáng họa. Chỉ tin vào chân lý nhân quả và cố gắng hoàn thiện nhân cách của chính mình.
Điều 15: Người Phật tử nên thờ Phật ở nơi thoáng cao, trang nghiêm, sạch sẽ, dễ thấy, thuận tiện cho việc dâng cúng hoa quả và lễ bái.
Điều 16: Người Phật tử nên thường xuyên quét dọn nơi thờ Phật, thắp nhang đèn, cúng hoa quả, lễ bái. Trước khi cúng hay lễ Phật phải tắm gội, ăn mặc tươm tất, sạch sẽ; thân và tâm phải thanh thản và thuần khiết.
Điều 17: Người Phật tử nên để chuông mõ ở trang hay bàn Phật. Không để kinh sách, chuỗi niệm Phật, áo tràng một cách tùy tiện hay ở nơi thiếu tôn nghiêm, thanh tịnh.
CHƯƠNG V: HỌC PHẬT
Điều 18: Người Phật tử nên chuyên cần học hỏi và thực hành lời Phật dạy. Xem kinh, luật, luận là sự sống tinh thần và nền tảng cho sự hướng thượng của bản thân.
Điều 19: Người Phật tử nên khắc phục hoàn cảnh, siêng học chánh pháp của Phật ở các trung tâm văn hóa Phật giáo, từ các phương tiện truyền thông Phật pháp, từ các lớp giáo lý phổ thông ở các chùa, các khóa huấn đức, tu thân, các buổi thuyết pháp vào ngày sám hối, ngày vía Phật, Bồ-tát và các mùa an cư kiết hạ của quý Thầy Cô.
Điều 20: Người Phật tử nên có bổn phận, trách nhiệm hướng dẫn, khích lệ vợ/chồng mình, con cái, cha mẹ, thân quyến và bạn bè mình tìm hiểu, học hỏi và thực hành chánh pháp của đức Phật.
Điều 21: Người Phật tử nên siêng năng ứng dụng, thể nghiệm, tiêu hóa và biến chánh pháp của đức Phật thành thức ăn và máu huyết cho sự sống của bản thân, gia đình và xã hội.
Điều 22: Người Phật tử không được chỉ trích, chống đối những người tu tập theo các pháp môn và tông phái của Phật giáo. Phải tôn trọng, tìm hiểu pháp môn Phật giáo khác với truyền thống tu tập của mình, để hoàn thiện lẫn nhau, để cho chánh pháp của đức Phật tỏa sáng khắp nơi bằng nhiều cách.
CHƯƠNG VI: SINH HOẠT
Điều 23: Người Phật tử nên phát huy đời sống chánh nghiệp, chánh mạng. Không sống phi pháp, phi nghĩa dưới mọi hình thức.
Điều 24: Người Phật tử nên sinh sống và tạo ra của cải, tài sản bằng công sức của bàn tay và trí khôn của khối óc, đúng với chánh pháp và phù hợp với luật pháp xã hội. Không nên cho vay nặng lãi, bắt chẹt người khác trong hoàn cảnh túng quẫn, khó khăn.
Điều 25: Người Phật tử nên sống căn bản, điều độ, ít muốn, biết đủ, tương thân và tương trợ. Không quá chuộng hay lệ thuộc hình thức.
Điều 26: Người Phật tử nên nâng cao đời sống tinh thần, phát huy cảm thọ hạnh phúc cao thượng để cuộc sống thật sự có ý nghĩa và giá trị.
Điều 27: Người Phật tử nên tham gia sinh hoạt gia đình Phật tử vào các ngày chủ nhật cũng như các sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt văn hóa Phật giáo.
Điều 28 Người Phật tử nên làm chủ nhận thức, sinh hoạt và làm chủ cuộc sống. Sống theo, sống đúng và sống phù hợp với chánh pháp của đức Phật.
CHƯƠNG VII: CHA MẸ
Điều 29: Người Phật tử làm cha mẹ phải có bổn phận thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái trưởng thành về thể chất, thể trí, nhân cách, đạo đức; tạo dựng nghề nghiệp và khả năng tự lập cho con cái.
Điều 30: Người Phật tử nên giáo dục con cái khi còn trong thai bằng đức hạnh và chánh niệm của mình. Truyền thụ cho con cái nét đẹp văn hóa, đạo đức của Phật giáo, của truyền thống dân tộc và của gia đình.
Điều 31: Khi con được một tuổi, người Phật tử nên đem con đến chùa làm lễ khai tâm và ghi vào sổ bộ của bổn tự. Khi con được năm tuổi, người Phật tử nên dẫn con đến chùa học giáo lý, song song với chương trình thế học. Khi con lên sáu tuổi nên hướng dẫn con làm lễ quy y Ba Ngôi Báu, để con cái chính thức trở thành Phật tử.
Điều 32: Người Phật tử nên truyền chất Phật cho con qua các lễ thôi nôi, khai tâm, lễ quy y, lễ cưới, sinh nhật và qua cuộc sống thường nhật. Dạy con ý thức học Phật pháp, đi chùa, lạy Phật, đọc tụng kinh Phật, nghe giảng, ăn chay kỳ, làm phước và tu đức.
Điều 33: Người Phật tử làm cha mẹ không nên cản trở con cái nếu chúng có ý thức và muốn xuất gia, làm tu sĩ. Trái lại, cha mẹ nên tạo thuận duyên cho con cái mình thành đạt chí nguyện xuất trần.
CHƯƠNG VIII: CON CÁI
Điều 34: Người Phật tử làm con phải hãnh diện, thương kính và tận tình phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ còn sống.
Điều 35: Người Phật tử nên hiếu thảo, vâng lời cha mẹ dạy. Không chơi bời, hút sách, xa xí. Phải cố gắng học hành và lập nghiệp chân chánh để phụ giúp và đền ân cha mẹ.
Điều 36: Người Phật tử nên hết lòng chăm sóc, điều trị, sớm thăm tối viếng cha mẹ khi cha mẹ già yếu và đau ốm, để cha mẹ an vui mà chóng khỏi bệnh.
Điều 37: Người Phật tử nên có ý thức trách nhiệm trong việc duy trì, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức của Phật giáo, dân tộc và gia đình.
Điều 38: Nếu cha mẹ không có chánh kiến, chánh tín, chánh nghiệp . . . Người Phật tử nên kiên trì, khôn khéo can gián để cha mẹ trở về sống với chánh pháp.
Điều 39: Khi cha mẹ qua đời, người Phật tử nên tổ chức lễ tang đơn giản, đúng chánh pháp, để tạo hành trang tái sanh tốt cho cha mẹ.
Điều 40: Người Phật tử nên tổ chức các lễ tưởng niệm cha mẹ vào dịp các tuần thất, một trăm ngày, giỗ hằng năm . . . tại chùa. Trong trường hợp tổ chức tại nhà, người Phật tử nên mời quý Thầy Cô và ban hộ niệm về nhà tụng kinh. Phẩm vật dâng cúng nên thuần chay. Người Phật tử cũng nên tu phước, bố thí, cúng dường Ba Ngôi Báu, để hồi hướng công đức cho cha mẹ.
CHƯƠNG IX: HÔN NHÂN
Điều 41: Người Phật tử trước khi tiến đến hôn nhân, phải có ý thức và ổn định nghề nghiệp và khả năng tự lập vững, để đời sống gia thất về sau không phải gặp khó khăn và trở ngại.
Điều 42: Người Phật tử nên có thời gian tìm hiểu nhau chín chắn về các phương diện: tôn giáo, đạo đức, nhân cách, hiểu biết và lý tưởng trước khi đính hôn, để đời sống hôn nhân cũng như đời sống của con cái sau này có được hạnh phúc thật sự và lâu dài.
Điều 43: Để người bạn đời phù hợp tính tình, lý tưởng và hạnh nguyện với mình, người Phật tử nên chọn người theo đạo Phật. Nếu người bạn sắp cưới không có đạo hoặc theo tôn giáo hay tín ngưỡng khác thì nên thuyết phục người ấy cùng trở về quy y và nương tựa Ba Ngôi Báu, để đôi giai ngẫu cùng nhìn, cùng sống và cùng hưởng một chân lý.
Điều 44: Trước ngày lễ cưới, người Phật tử nên đến chùa thưa thỉnh thầy bổn sư về việc tổ chức lễ cưới và thân mời huynh đệ Phật tử khác cùng tham dự.
Điều 45: Trong ngày lễ cưới, hai đàng trai gái phải đến chùa làm lễ chứng hôn trước Ba Ngôi Báu và Phật tử để nghe giáo huấn quý báu về cách giữ gìn, bảo vệ và phát triển hạnh phúc lứa đôi và cho hạnh phúc của con cái.
CHƯƠNG X: VỢ CHỒNG
Điều 46: Vợ chồng phải sống tôn trọng, thương yêu, hiểu biết và chia xẻ niềm vui, nỗi buồn cũng như thuận lợi và khó khăn cho nhau, để đời sống hai người trở nên khối thủy chung duy nhất, không gì chia cách được.
Điều 47: Vợ chồng phải biết thương kính, nhường nhịn nhau, rộng lượng, tha thứ và bỏ qua lỗi lầm của nhau mỗi khi ai vi phạm sai lầm, sơ suất. Vợ chồng phải sống vì hạnh phúc cho cả hai và cho con cái.
Điều 48: Chồng phải thương yêu vợ hết lòng, giúp vợ làm tốt việc nội gia và sắm sửa trang sức cần thiết cho vợ tùy theo khả năng tài chánh.
Điều 49: Vợ phải thể hiện tốt bổn phận của mình; khéo tiếp đãi giao tế; cùng chồng giáo dục con cái cũng như tạo ra tài sản và làm lớn mạnh tài chánh gia đình.
Điều 50: Vợ chồng phải sống tiết hạnh, ít muốn, biết đủ; giúp đỡ nhau thăng tiến trên đường đời cũng như đường đạo.
CHƯƠNG XI: THẦY TRÒ
Điều 51: Thầy giáo phải gánh vác trách nhiệm thiêng liêng trong việc đào tạo cho gia đình, quốc gia và xã hội những mẫu người hoàn thiện về tri thức, nhân cách và phẩm chất “uống nước nhớ nguồn” ở học trò.
Điều 52: Thầy giáo phải truyền trao cho thế hệ trẻ những tinh hoa văn hóa, đạo đức của Phật giáo, của dân tộc và của loài người; khơi dậy những phẩm chất cao quý và khả năng sáng tạo của thế hệ trẻ, để góp phần làm giàu mạnh đất nước và an lạc xã hội.
Điều 53: Thầy giáo phải kích thích tính ham hiểu biết, học hỏi, nghiên cứu của học trò; dạy học trò bằng tất cả bầu nhiệt huyết; tận tâm, kiên nhẫn và không giấu giếm bất cứ kiến thức gì mình có được.
Điều 54: Thầy giáo phải là người chói sáng về gương hạnh đạo đức; là người mẫu mực của học trò về những gì mình đã học, đã biết và đã dạy; không ngừng rèn luyện tri thức và phẩm cách đạo đức của mình.
Điều 55: Học trò phải lễ độ, kính trọng và biết ơn dạy dỗ của thầy giáo. Học trò phải học hành chăm chỉ, cần cù với tinh thần khoa học, khách quan để khám phá và đi vào thế giới vô tận của tri thức và nhân cách.
Điều 56: Học trò phải học tập không mệt mỏi, để trở về cội nguồn dân tộc, dòng giống, tổ tiên và đạo Phật, và sống sao cho xứng đáng với các cội nguồn đó.
Điều 57: Học trò phải học tập nhằm tu dưỡng bản thân, đền ơn giáo dưỡng của thầy và báo đáp công ơn sanh thành, nuối nấng của cha mẹ, và góp phần làm giàu mạnh gia đình, đất nước và xã hội.
CHƯƠNG XII: BẠN BÈ
Điều 58: Bạn bè đến với nhau bằng sự tìm hiểu, cảm thông, tôn trọng, thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau, để cùng tiến tiến bộ, lớn mạnh và cảm nhận phúc lạc trong cuộc sống.
Điều 59: Người Phật tử nên đến người bạn tốt để học hỏi; đến người bạn xấu để chuyển hóa; tìm người trí đức để giao du; tìm người thua kém để giúp đỡ.
Điều 60: Bạn bè phải thành tín, không tính chuyện hơn thua, xây dựng và hoàn thiện nhân cách, đạo đức và trí huệ cho nhau; thủy chung nhau trong chí hướng và lý tưởng.
Điều 61: Người Phật tử nên can gián, ngăn chặn khi bạn làm điều xấu; sẵn lòng tùy hỷ khi bạn làm điều hay; quan tâm giúp đỡ khi bạn gặp khó khăn; rộng lượng, tha thứ khi bạn vấp phải sai lầm.
CHƯƠNG XIII: CHỦ THỢ
Điều 62: Chủ phải tôn trọng sức lao động, chất xám, nhân cách đạo đức của thợ. Giao việc cho thợ phù hợp với khả năng và sở trường.
Điều 63: Chủ phải trả tiền lương, chế độ thù lao và nghỉ ngơi hợp lý. Không được cưỡng bức, bắt chẹt, bóc lột sức lao động của thợ.
Điều 64: Chủ phải thương yêu, săn sóc và chữa trị khi thợ mắc bệnh; chia xẻ thức ăn, tặng quà vật vào những dịp cần thiết.
Điều 65: Thợ phải nhiệt thành, say mê công việc; làm việc bằng tất cả sức lực, trí tuệ và lòng yêu nghề của mình.
Điều 66: Thợ phải thể hiện nhân cách, phẩm chất đạo đức của mình, làm tốt hợp đồng; biết ơn và hài lòng với những gì chủ tặng cho; làm việc với tâm nguyện đem lại lợi nhuận và danh tiếng cho chủ như cho chính mình.
CHƯƠNG XIV: LÀNG XÓM – QUÊ HƯƠNG
Điều 67: Người Phật tử nên thương yêu, nhường nhịn, đùm bọc lẫn nhau. Đối xử nhau bằng tấm lòng nhân hậu. Sống vì lợi ích và an lạc cho mọi người.
Điều 68: Người Phật tử nên xem láng giềng như họ hàng; xem mọi người như người thân; lấy trí nhân thay hung bạo; đem đạo nghĩa thắng hung tàn.
Điều 69: Người Phật tử mang ơn ai thì nhớ trả; làm ơn ai thì không để lòng; thương người như thể thương thân; giúp người như tự giúp. Người Phật tử nên quan niệm rằng tất cả là quyến thuộc, do đó, sống đoàn kết, hòa hợp như một đại gia đình.
Điều 70: Người Phật tử nên xem quê hương là cội nguồn sự sống, là nơi chôn nhau cắt rốn, và trưởng dưỡng của mỗi người. Người Phật tử thành kính biết ơn, trả ơn và trung thành với quê hương và dân tộc.
Điều 71: Người Phật tử dù ở nơi đâu cũng phải nhớ đến quê hương, hướng về quê hương. Sống, làm việc vì lợi ích, vì sự trưởng thành, vì sự lớn mạnh của quê hương. Duy trì và phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức của dân tộc. Làm lớn mạnh tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc. Xóa bỏ óc bảo thủ, định kiến, nô lệ văn hóa. Bất khuất trước các thế lực đồng hóa, xâm lăng. Thể hiện tính dân tộc ở mọi nơi, ở mọi khía cạnh của cuộc sống.
CHƯƠNG XV: GIAO TẾ
Điều 72: Khi ứng xử và giao tế với đời, người Phật tử nên quan niệm Ba Ngôi Báu là tối thượng; năm điều đạo đức là phương châm của một đời sống an lạc; từ, bi, hỷ, xả là chỉ nam soi đường; nhiệt thành, kiên trì và hỗ trợ mọi người là nếp sống thực tế.
Điều 73: Người Phật tử đổi oán thù thành bè bạn; chuyển ganh ghét thành thương yêu; nhẫn nhịn, hòa thuận, bình đẳng, không kỳ thị, phân biệt; khoan dung và độ lượng.
Điều 74: Người Phật tử luôn sống trong tôn trọng, hiểu biết, cảm thông những nét sai biệt của người khác; sẵn lòng hợp tác, giúp đỡ và tùy hỷ việc làm tốt của mọi người.
Điều 75: Người Phật tử nên đề cao đức tính bi, trí, dũng và nhân nghĩa. Phải sống tinh thần vô úy, bất khuất trước mọi thế lực gian ác. Sống trung thành và hy sinh cho chân lý, cho sự an lạc, giải thoát của bản thân và tha nhân.
Điều 76: Người Phật tử nên gần gũi người kém hơn để giúp đỡ; gần gũi kẻ xấu để chuyển hóa; từ bỏ điều xấu, phát triển điều tốt; thương yêu, bổ sung nhau, dìu dắt nhau trên đường đạo và đường đời.
Điều 77: Người Phật tử khi gặp quý Thầy, quý Sư cô và các đạo hữu nên chấp tay trước ngực xá chào, để cho nét đẹp văn hóa tỉnh thức này được phổ biến và tỏa sáng.
Điều 78: Người Phật tử không nên kêu quý Thầy bằng anh, chú hay bác; không nên kêu quý Sư cô bằng chị hay gì. Tự xưng mình bằng con đối với quý Thầy Cô bằng tuổi mình trở lên. Tự xưng bằng pháp danh đối với quý Thầy Cô nhỏ tuổi hơn mình. Nói năng từ tốn và lễ độ.
CHƯƠNG XVI: TANG CHẾ
Điều 79: Người Phật tử khi lâm trọng bệnh và sắp sửa mệnh chung nên chánh niệm, tỉnh giác, hướng về Ba Ngôi Báu; giữ tinh thần thản nhiên, không lo sợ cái chết; xả bỏ tất cả ý niệm về bản ngã, sở hữu tài sản, để có thể ra đi một cách nhẹ nhàng.
Điều 80: Khi người thân quyến gần mạng chung, người Phật tử nên thành kính hướng về Ba Ngôi Báu, mời quý Thầy Cô tụng kinh trợ niệm và tiếp dẫn để người bệnh khi mãn phần được sanh về cảnh giới chư Phật hay cảnh giới tốt. Nếu nhà quá xa chùa, không tiện thỉnh mời quý Thầy Cô, người Phật tử nên mở băng tụng kinh và nhắc nhở người thân của mình về nguyên lý vô thường, vô ngã, để người sắp mạng chung có thể ra đi dễ dàng.
Điều 81: Ngay lúc tắt thở và trong suốt thời gian tang lễ, con cháu, vợ/chồng và thân quyến không nên khóc lóc, kể lể, để không làm động tâm người vãng sanh. Trái lại nên thành tâm, bình tĩnh, đồng niệm Phật thật rõ ràng để trợ tiến người ra đi.
Điều 82: Gia đình người quá cố nên thay mặt người quá cố làm các việc phước báu, bố thí, cúng dường, từ thiện xã hội, để hồi hướng công đức cho người mạng chung.
Điều 83: Tang lễ nên tổ chức theo tinh thần Phật giáo. Không phô trương hay chú trọng hình thức, đãi cúng mặn, tế thần. Không cúng tam sên (sinh), đốt giấy vàng mã, mở cửa mã. Chỉ nên cúng đồ chay, tụng kinh, quán tưởng để duy trì thuần phong mỹ tục của đạo Phật.
Điều 84: Lễ nhạc thì tùy nghi, nhưng nên đơn giản. Tốt nhất là bãi miễn. Đặc biệt, trong lúc qúy Thầy Cô tụng kinh, không nên trỗi nhạc và ngưng tất cả việc đãi đằng, để tạo trang nghiêm cho khóa lễ.
Điều 85: Sau khi tống táng, người Phật tử nên tiếp tục cúng bảy tuần thất và giỗ hằng năm để tưởng nhớ. Các lễ cúng nên tổ chức tại chùa.
CHƯƠNG XVII: TU TRÌ
Điều 86: Người Phật tử nên siêng năng đọc tụng và thực hành lời Phật dạy vào cuộc sống thường nhật; biến giáo pháp thành sự sống của bản thân và tha nhân.
Điều 87: Người Phật tử nên khắc phục khó khăn; nhẫn nại, kiên trì thực hành và trung thành với chân lý của đức Phật. Không kích bác, phỉ báng người theo pháp môn khác.
Điều 88: Người Phật tử nên đến chùa lễ Phật, tụng kinh, nghe pháp, ít nhất một lần trong tuần; nên tham dự đầy đủ các buổi sám-hối, lễ tưởng niệm Phật, Bồ-tát, A-la-hán và Thánh tăng, và nên ăn chay ít nhất một ngày trong tháng.
Điều 89: Người Phật tử muốn tu trì miên mật thi nên đi chùa tụng kinh, ngồi thiền mỗi ngày, tu tập tám điều đạo đức (bát quan trai giới), vâng giữ mười điều lành, thọ lãnh đạo đức Bồ-tát (Bồ-tát giới); tu hạnh xuất gia.
Điều 90: Khi dự các khóa lễ, người Phật tử nên mặc áo tràng. Tâm nên chí thành, tỉnh thức, không loạn niệm, tạp tưởng, để khóa lễ thật sự có ý nghĩa, lợi ích, đem lại phước báu, an lạc thân tâm.
CHƯƠNG XVIII: MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM
Điều 91: Người Phật tử luôn quan niệm rằng mọi sự vật hiện tượng trên thế gian này luôn vận động, chuyển biến, đổi thay, không có thực thể, không có bản ngã, và thường dẫn đế sự không thỏa mãn. Quán chiếu như vậy để từ bỏ thái độ chấp ngã và ngã sở hữu.
Điều 92: Người Phật tử luôn quan niệm rằng không có một đấng sáng tạo nào tạo dựng nên thế giới, con người và vạn vật. Thế giới được hình thành bằng nguyên lý duyên khởi, tương thuộc, không có khởi thủy, không có chấm dứt.
Điều 93: Người Phật tử luôn quan niệm rằng sự thiên sai vạn biệt trong vũ trụ là do các hành vi có chủ ý (nghiệp) của từng cá nhân. Chúng sanh là chủ nhân của đau khổ và hạnh phúc. Không ai có thể ban phước giáng họa, ngoài hành vi thiện hay ác của chính chúng ta.
Điều 94: Người Phật tử luôn quan niệm rằng thế giới hiện tượng này thường có mặt của đau khổ và an vui. Người Phật tử nên có ý thức chấm dứt đau khổ, hướng đến an lạc. Nguyên nhân của các đau khổ này là các tâm lý xấu xa như khát ái, tham, sân, si, v.v. . . Sự chấm dứt toàn bộ đau khổ và nguyên nhân của nó là niết-bàn, niềm an lạc tuyệt đối. Con đường dẫn đến sự an lạc của niết-bàn này là con đường trung đạo gồm tám yếu tố, đó là: quan niệm chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, hành vi chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, nỗ lực chân chánh, tỉnh thức chân chánh và thiền định chân chánh.
Điều 95: Người Phật tử luôn quan niệm rằng con đường trung đạo là con đường xa lìa sự tham đắm dục lạc và khổ hạnh ép xác, và các cực đoan cũng như nhị biên. Đây là con đường duy nhất hướng đến giải thoát, niết-bàn.
Điều 96: Người Phật tử ý thức rõ ràng rằng con đường tu học trải qua nhiều gian nan và thử thách, do đó, không hoài vọng về tương lai cũng như không truy ức về quá khứ; trái lại, an trụ thân tâm vào từng phút giây tỉnh thức và chánh niệm của hiện tại.
Điều 97: Người Phật tử nên ý thức rõ ràng rằng sự sống của con người tồn tại trong khoảnh khắc của thời gian, do đó, cố gắng tu tập và gột bỏ các bợn nhơ của tâm ngay bây giờ và tại mọi nơi, chứ không đợi đến lúc tuổi già mới tu tập.
Điều 98: Người Phật tử nên duy trì chánh niệm, tỉnh thức trong từng hành vi và cử chỉ; không để cho các tâm niệm tham, sân, si và các tâm lý bất thiện khống chế và ngự trị thân tâm mình.
Điều 99: Người Phật tử nên ý thức và dang rộng đôi tay giúp đỡ mọi người với tinh thần vô ngã và vị tha. Hãy mạnh dạn “nói với nhau” thay vì “nói về nhau” để tháo gỡ mọi hiểu lầm, rút ngắn khoảng cách phân chia, tìm đến sự hiểu biết, cảm thông và tôn trọng lẫn nhau. Hãy từ bỏ thái độ tiếc rẻ. Hãy đối diện với thực tại, nhận chân và vượt qua mọi trở ngại. Hãy dụng tâm vào việc tu học, để không phải hối hận về sau.
Điều 100: Người Phật tử nên xem bệnh khổ như thuốc trị tham dục, xem khó khăn và hoạn nạn như lò luyện ý chí, xem nghịch duyên như nguồn thử lửa, xem ma quân như bạn đạo, xem kẻ ác độc và người chống đối như thiện tri thức, xem sự xả bỏ như vinh hoa, xem trí tuệ và đạo đức là tài sản quý nhất và xem đạo Phật là con đường giải thoát cứu cánh.
* * *
PHỤ LỤC
CÁC NGÀY ĂN CHAY
Hai ngày: 1 và 15.
Bốn ngày: 1, 14, 15 và 30.
Sáu ngày: 8, 14, 15, 23, 29 và 39.
Tám ngày: 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24 và 30.
Mười ngày: 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và 30.
Một tháng: tháng giêng hay tháng 4 hay tháng 7 hay tháng 10.
Ba tháng: tháng giêng, tháng 7 và tháng 10.
Bốn tháng: tháng giêng, tháng 4, tháng 7 và tháng 10.
Trường trai: quanh năm suốt tháng.
Người ăn chay phải giữ tâm trong sạch, tránh điều tội ác, làm việc nhân từ, thương người mến vật, tu tập công đức, để ánh sáng từ bi và trí tuệ của đạo Phật tỏa sáng khắp nhân loại và chúng sanh.
BuildBN trích theo Thích Nhật Từ
* * *